37. Sớ Cúng Vớt Đất

(Hoàng Thiên Giáng Phước)

 

Nguyên văn:

 

伏以

皇天降福、廣開權寔之門、后土興緣、普濟陽居之戸、三途透徹、九有聞知。拜疏爲越南國...省、...縣(郡)、...社、...村、家居奉

佛聖上香献供...求安事。今弟子...等、惟日仰干...土神列位俯垂炤鑒。言念、叨居土宅、獲處人倫、籍皇天蓋載之恩、賴后土包含之德。古皇治世、爰當野處穴居、軒氏化民、自有彫樑畫棟、巢家制作、依上古之規程、魯氏興工、敎下民之居處。從前卜築、旣寧帖於方隅、自後經營、恐冒干於禁忌。或伏屍隱慝、神自散而鬼自迷或故氣停留、地不靈而人不傑以致群邪、抵激馘鬼交侵、擲火拋屍、敲燈弄影祈土宅以安寧、虔仗

佛慈而超拔。茲者辰維...月節屆...天。仗命禪流、開行法事於中、特設安慰龍神、各回鎭於方。以衛扶於家宅。今則壇儀整肅、菲禮敷陳、謹具疏文、一心拜請。承天効法開皇后土元君。皇天后土尊神。土府甄皇大帝。土府九壘帝君。土地祗紫英夫人。太玄夜光夫人。北極紫微大帝。南極長生大帝。東極青華大帝。三河四海九江大帝。陰府五道將軍。太監白馬尊神。今年行譴大王。太歲至德尊神。當境城隍大王。本處土地正神。坤离土火二位仙娘。五行列位仙娘。歷代先師尊神。東厨司命灶君。五方土公尊神。五方龍神土地住宅神官十八龍宅列位將軍。家堂香火列位威靈。本土土地福財神。來山去水龍脈水道神官。五方主隅之神。門丞戸尉八卦九宮神官。青龍白虎朱雀玄武勾陳騰蛇神官。土神列位一切威靈、同垂炤鑒、共降吉祥。伏願、

皇天降福、福留永永無窮、后土施恩、恩隆綿綿不盡、家門清吉、長幼咸安、聚東西南北之財、納春夏秋冬之利。仰賴坤神列位、扶持之大力也。謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Hoàng Thiên giáng phước, quảng khai quyền thật1 chi môn; Hậu Thổ2 hưng duyên, phổ tế dương cư chi hộ; Tam Đồ thấu triệt, Cửu Hữu văn tri.

Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh, … Quận, … Xã, … Thôn gia cư phụng Phật Thánh thượng hương hiến cúng ... cầu an sự. Kim đệ tử … đẳng, duy nhật ngưỡng can, Thổ thần liệt vị, phủ thùy chiếu giám.

Ngôn niệm: Phao cư thổ trạch, hoạch xử nhân luân; tịch Hoàng Thiên cái tải chi ân, lại Hậu Thổ bao hàm chi đức. Cổ hoàng trị thế, viên đương dã xứ huyệt cư; Hiên Thị3 hóa dân, tự hữu điêu lương họa đống;4 sào gia chế tác, y thượng cổ chi quy trình; Lỗ Thị5 hưng công, giáo hạ dân chi cư xứ. Tùng tiền bốc trúc,6 ký ninh thiếp ư phương ngung; tự hậu kinh doanh, khủng mạo can ư cấm kỵ. Hoặc phục thi7ẩn nặc, thần tự tán nhi quỷ tự mê; hoặc cố khí đình lưu, địa bất linh nhi nhân bất kiệt. Dĩ trí quần tà, để kích quắc quỷ giao xâm; trịch hỏa phao thi, sao đăng bôn ảnh; dục kỳ thổ trạch dĩ an ninh, kiền trượng Phật từ nhi siêu bạt. Tư giả thần duy ... nguyệt tiết giới ... thiên, trượng mạng Thiền lưu, khai hành pháp sự ư trung, đặc thiết an ủy long thần các hồi trấn ư phương ngung, dĩ vệ phò ư gia trạch. Kim tắc đàn nghi chỉnh túc, phỉ lễ phu trần, cẩn cụ sớ văn, nhất tâm bái thỉnh:

Thừa Thiên Hiệu Pháp Khai Hoàng Hậu Thổ Nguyên Quân.8

Hoàng Thiên Hậu Thổ Tôn Thần.

Thổ Phủ Chân Hoàng Đại Đế.

Thổ Phủ Cửu Lũy9 Đế Quân.

Thổ Hoàng Địa Kỳ Tử Anh Phu Nhân.

Thái Huyền Dạ Quang Phu Nhân.

Bắc Cực Tử Vi Đại Đế.10

Nam Cực Trường Sanh Đại Đế.11

Đông Cực Thanh Hoa Đại Đế.12

Tam Hà13 Tứ Hải14 Cửu Giang15 Đại Đế.

Âm Phủ16 Ngũ Đạo Tướng Quân.17

Thái Giám Bạch Mã Tôn Thần.

Kim Niên Hành Khiển Đại Vương.18

Thái Tuế19 Chí Đức Tôn Thần.

Đương Cảnh Thành Hoàng20 Đại Vương.

Bổn Xứ Thổ Địa Chánh Thần.

Khôn21 Ly22 Thổ Hỏa Nhị Vị Tiên Nương.

Ngũ Hành Liệt Vị Tiên Nương.

Lịch Đại Tiên Sư Tôn Thần.

Đông Trù Ty Mạng Táo Quân.

Ngũ Phương23 Thổ Công Tôn Thần.

Ngũ Phương Long Thần Thổ Địa Trú Trạch Thần Quan.

Thập Bát Long Trạch Liệt Vị Tướng Quân.

Gia Đường Hương Hỏa Liệt Vị Oai Linh.

Bổn Thổ Thổ Địa Phước Đức Tài Thần.

Lai Sơn Khứ Thủy Long Mạch24 Thủy Đạo Thần Quan.

Ngũ Phương Chủ Ngung Chi Thần.

Môn Thừa Hộ Úy25 Bát Quái Cửu Cung26 Thần Quan.

Thanh Long27 Bạch Hổ28 Châu Tước29 Huyền Võ30 Câu Trần31 Đằng Xà32 Thần Quan.

Thổ Thần liệt vị nhất thiết oai linh, đồng thùy chiếu giám, cọng giáng cát tường.

Phục nguyện: Hoàng Thiên giáng phước, phước lưu vĩnh vĩnh vô cùng; Hậu Thổ thi ân, ân giáng miên miên bất tận; gia môn thanh cát, trưởng ấu hàm an; tụ Đông Tây Nam Bắc chi tài, nạp Xuân Hạ Thu Đông chi lợi. Ngưỡng lại khôn thần liệt vị phò trì chi đại lực dã. Cẩn sớ.

Phật lịch … Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật ... thời

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

Trời thiêng ban phước, rộng mở phương tiện cửa chân; Hậu Thổ gieo duyên, độ khắp mọi nhà cõi thế; Ba Đường thấu triệt, Chín Cõi đều nghe.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật Thánh, dâng hương tụng kinh cầu an ... Hôm nay đệ tử …, ngưỡng trông liệt vị Thổ Thần, cúi thương chiếu giám.

Nép nghĩ: Sống nơi nhà cửa, được làm thân người; nhờ Trời cao che chở ơn sâu, nương Hậu Thổ bọc đùm đức cả. Vua xưa trị thế, vốn nơi hang động an cư; Hiên Viên giúp dân, tự mình khắc hình vẽ cột; trên cây làm tổ, tuân theo thượng cổ quy trình; Lỗ Ban thi công, dạy dân lành nơi chốn ở; từ trước bói toán, thảy đều dựa vào hướng phương; từ nay kinh doanh, sợ phạm đôi điều cấm kỵ; hoặc thây chết che giấu, thần tự đi mà quỷ tự mê; hay khí tà còn lưu, đất không linh mà người chẳng giỏi; để dẹp tà ma, đuổi xua loài quỷ giao tranh; phóng lửa ném thây, gõ đèn giỡn bóng; muốn cầu nhà cửa được an ninh, nương nhờ đức từ chư Phật hóa giải. Nay nhân vào tháng ..., thuộc tiết trời ..., vâng mệnh chúng tăng, tuyên bày pháp sự nơi đây, dâng cúng trấn an Long Thần; thảy về trấn tại phương mình, bảo vệ phò trì gia trạch. Nay tất đàn tràng nghiêm túc, lễ mọn bày xong; dâng trọn sớ văn, một lòng lạy thỉnh:

Thừa Thiên Hiệu Pháp Khai Hoàng Hậu Thổ Nguyên Quân.

Hoàng Thiên Hậu Thổ Tôn Thần.

Thổ Phủ Chân Hoàng Đại Đế.

Thổ Phủ Cửu Lũy Đế Quân.

Thổ Hoàng Địa Kỳ Tử Anh Phu Nhân.

Thái Huyền Dạ Quang Phu Nhân.

Bắc Cực Tử Vi Đại Đế.

Nam Cực Trường Sanh Đại Đế.

Đông Cực Thanh Hoa Đại Đế.

Tam Hà Tứ Hải Cửu Giang Đại Đế.

Âm Phủ Ngũ Đạo Tướng Quân.

Thái Giám Bạch Mã Tôn Thần.

Kim Niên Hành Khiển Đại Vương.

Thái Tuế Chí Đức Tôn Thần.

Đương Cảnh Thành Hoàng Đại Vương.

Bổn Xứ Thổ Địa Chánh Thần.

Khôn Ly Thổ Hỏa Hai Vị Tiên Nương.

Ngũ Hành Các Vị Tiên Nương.

Lịch Đại Tiên Sư Tôn Thần.

Đông Trù Ty Mạng Táo Quân.

Ngũ Phương Thổ Công Tôn Thần.

Ngũ Phương Long Thần Thổ Địa Trú Trạch Thần Quan.

Thập Bát Long Trạch Các Vị Tướng Quân.

Gia Đường Hương Hỏa Các Vị Oai Linh.

Bổn Thổ Thổ Địa Phước Đức Tài Thần.

Lai Sơn Khứ Thủy Long Mạch Thủy Đạo Thần Quan.

Ngũ Phương Chủ Ngung Chi Thần.

Môn Thừa Hộ Úy Bát Quái Cửu Cung Thần Quan.

Thanh Long Bạch Hổ Châu Tước Huyền Võ Câu Trần Đằng Xà Thần Quan.

Thổ Thần các vị, hết thảy hương linh; cùng thương chứng giám, ban cho cát tường.

Cúi mong: Trời cao giáng phước, phước lưu mãi mãi vô cùng; Hậu Thổ ban ơn, ơn giáng hoài hoài chẳng dứt; gia môn tốt đẹp, lớn nhỏ đều yên; gom tài của Đông Tây Nam Bắc, nạp lợi lạc Xuân Hạ Thu Đông. Ngưỡng mong Thổ Thần các vị, ban sức phò trì lớn. Kính dâng sớ.

Phật lịch … Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

  1. Quyền thật (權寔): quyền nghĩa là quyền nghi, chỉ cho phương tiện cần thiết nhất thời; thậtchân thật không dối, sự chân thật tột cùng vĩnh viễn không thay đổi. Quyền thật còn gọi là chân giả. Như trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, CBETA No. 1295) quyển 25 có câu: “Đốn tiệm thiên viên, quyền thật không hữu, đinh tủy thiết thiệt, hà mục hải khẩu (頓漸偏圓權寔空有釘觜鐵舌河目海口, đốn tiệm méo tròn, quyền thật không có, mỏ đinh lưỡi sắt, mắt sông miệng biển).” Hay như trong Đại Thừa Bản Sanh Tâm Địa Quán Kinh Thiển Chú (大乘本生心地觀經淺註, CBETA No. 367) cũng có câu: “Dĩ thuyết pháp chi công, trang nghiêm tự tánh, quyền thật tự tại, cố tôn vi vương (以說法之功莊嚴自性權寔自在故尊爲王, lấy công đức thuyết pháp, trang nghiêm tự tánh, quyền thật tự tại, nên tôn xưng là vua).”
  2. Hậu Thổ (后土): có nhiều nghĩa khác nhau: (1) Tôn xưng đối với đại địa, như trong chương Hy Công Thập Ngũ Niên (僖公十五年) của Tả Truyện (左傳) có đoạn rằng: “Quân lý Hậu Thổ nhi đái Hoàng Thiên (履后土而戴皇天, người tuy đạp lên Thần Đất mà đội ông Trời).” (2) Chỉ Thần Thổ Địa, Thần Đất, Địa Thần (地神), đồng nghĩa với Địa Kỳ (地祗), hay chỉ cho nơi thờ tự Thần Thổ Địa. Như trong Chu Lễ (周禮), phần Xuân Quan (春官), Đại Tông Bá (大宗伯) có câu: “Vương đại phong, tắc tiên cáo Hậu Thổ (王大封則先告后土, nhà vua phong chức, trước phải cáo Thần Thổ Địa).” Hay trong Hán Thư (漢書), phần Võ Đế Kỷ (武帝紀) lại có câu: “Trẫm cung tế Hậu Thổ Địa Kỳ, kiến quang tập vu linh đàn, nhất dạ tam chúc (朕躬祭后土地祇見光集于靈壇一夜三燭, Trẫm cung kính cúng tế Thần Thổ Địa, thấy ánh sáng tập trung nơi linh đàn, một đêm ba lần thắp nến sáng).” (3) Tên gọi khác của Thổ Công (土公), xem chú thích Thổ Công bên trên. (4) Tên gọi của một chức quan chuyên quản lý đất đai thời Thượng Cổ, như trong Tả Truyện, chương Chiêu Công Nhị Thập Cửu Niên (昭公二十九年) có giải thích rằng: “Ngũ Hành chi quan, thị vị Ngũ Quan …, Thủy Chánh viết Huyền Minh, Thổ Chánh viết Hậu Thổ (五行之官、是謂五官水正曰玄冥、土正曰后土, quan Ngũ Hành được gọi là Ngũ Quan; … quan trông coi về thủy đạo là Huyền Minh, quan trông coi về đất đai là Hậu Thổ).” Trong các nghĩa trên, nghĩa số 2 là nghĩa trong bài. Trong dân gian Trung Quốc có câu chuyện Hậu Thổ Phu Nhân (后土夫人) cưới chàng họ Vi (). Trong khoảng thời gian niên hiệu Nguyên Hòa (元和, 806-820), khi tướng Cao Biền (高駢, 821-887) làm Tiết Độ Sứ (節度使) Hoài Nam (淮南), bộ tướng Lữ Dụng Chi (呂用之) ngụy tạo ra điềm linh dị của Hậu Thổ Phu Nhân và khuyên Cao Biền nên cát cứ một phương. Như trong bài thơ Hậu Thổ Miếu (后土廟) của La Ẩn (羅隱, 833-909) nhà Đường có câu: “Cửu Thiên Huyền Nữ do vô Thánh, Hậu Thổ Phu Nhân khởi hữu linh (九天玄女猶無聖后土夫人豈有靈, Cửu Thiên Huyền Nữ chẳng phải Thánh, Hậu Thổ Phu Nhân sao có linh)” để nói lên sự hôn mê, vô tri của Cao Biền lúc bấy giờ. Hậu Thổ còn có tên gọi khác là Thổ Hoàng (土皇), vị Địa Thần của Đạo Giáo, được liệt vào trong Tứ Ngự (四御). Thần hiệu của Hậu Thổ là Thừa Thiên Hiệu Pháp Khai Hoàng Hậu Thổ Nguyên Quân (承天効法開皇后土元君), còn gọi là Địa Mẫu Nương Nương (地母娘娘), Hậu Thổ Nương Nương (后土娘娘). Trong điện thờ Tứ Ngự có thần tượng hay thần vị của Hậu Thổ. Tương truyền mỗi năm vào ngày 18 tháng 10 âm lịch là ngày đản sinh của Hậu Thổ Nương Nương, cho nên người dân tiến hành cúng tế rất long trọng. Tại Trung Quốc, kể từ thời nhà Đường trở đi, theo đà phát triển của thuật Phong Thủy, mỗi khi động thổ, thượng lương, về nhà mới, trấn trạch, làm cầu, đắp đường, v.v., người dân đều có thiết trai nghi dâng cúng tạ Hậu Thổ để cầu cho gia trạch bình an, cầu đường hanh thông, ban phước tiêu tai cát tường. Truyền thống nầy cũng được tìm thấy trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam. Tại Huế mỗi năm có 2 tháng để Cúng Đất là tháng 2 hoặc tháng 8 Âm Lịch. Trong lễ nầy, ngoài những lễ vật độc đáo như cua, trứng vịt luộc, rau muống luộc mắm nêm, v.v., còn có luộc một con gà kiến tuổi đã trưởng thành và con gà đó phải được chọn lựa kỹ lưỡng, đặc biệt đôi chân phải “đẹp”. Sau khi cúng đất xong, theo tục lệ cặp chân gà được đem đi nhờ thầy xem bói giò để biết thời vận trong gia đình, hoặc được đem treo ở chàng bếp cho khô.
  3. Hiên Thị (軒氏): tức Hiên Viên (軒轅), Hoàng Đế (黃帝), một trong Tam Hoàng Ngũ Đế (五帝) của truyền thuyết Trung Quốc, là tổ tiên của dân tộc Trung Hoa. Hoàng Đế họ là Công Tôn (公孫), hiệu là Hiên Viên Thị (軒轅氏), Hữu Hùng Thị (有熊氏) hay Quy Tàng Thị (歸藏氏). Như trong Sử Ký (史記), phần Ngũ Đế Bản Ký (五帝本記) có ghi rằng: “Hoàng Đế giả, Thiếu Điển chi tử, tánh Công Tôn, danh Hiên Viên; Hoàng Đế cư Hiên Viên chi kheo (黃帝者少典之子姓公孫名軒轅黃帝居軒轅之丘, Hoàng Đế là con của Thiếu Điển; họ Công Tôn, tên Hiên Viên; Hoàng Đế sống trên Đồi Hiên Viên).” Vị trí của Đồi Hiên Viên hiện vẫn còn đang tranh luận, nhưng phần lớn các học giả đều công nhận là ở tại Trịnh Châu (鄭州), Hà Nam (河南). Xưa kia nơi đây có đô thành của vương quốc Hữu Hùng (有熊); phụ thân của Hiên Viên là quốc vương của xứ sở nầy. lại có thuyết cho là đồi nầy hiện ở tại vùng Khúc Phụ (曲阜), Sơn Đông (山東). Tương truyền rằng ông sanh vào ngày mồng 2 tháng 2 Âm Lịch. Trong trận chiến Trác Lộc (涿鹿), ông giết chết vua Xi Vưu (蚩尤), giành được thắng lợi, thống nhất các bộ lạc Trung Nguyên. Sau cuộc chiến, Hoàng Đế xuất binh tiến vào địa khu Cửu Lê (九黎), tại núi Thái Sơn (泰山), tập trung các bộ lạc trong thiên hạ, tiến hành long trọng nghi thức cáo tế trời đất. Đột nhiên, trên trời hiện ra con con giun lớn, màu vàng; mọi người cho rằng lấy đức của đất làm vua, nên vua tự xưng là Hoàng Đế. Trước kia Viêm Đế (炎帝) cùng với Hoàng Đế đã từng liên minh chống lại Xi Vưu. Tuy nhiên, sau khi vua Xi Vưu thất bại, Viêm Đế lại sanh bất hòa với Hoàng Đế. Hai bên quyết chiến trong trận Phản Tuyền (阪泉), và cuối cùng thì Hoàng Đế thắng trận và xác lập địa vị độc tôn thiên hạ. Trong thời gian trị vì, nhà vua đã từng dạy cho nhân dân biết cách lấy lửa nấu cơm, ăn cơm nóng, sáng chế kỹ thuật dệt lụa, chế ra lịch pháp, chế tạo y phục, mũ giày để đè phòng giá lạnh, che thân, v.v. Hoàng Đế có 4 vợ chính và 10 bà hầu. Bà Chánh Phi họ Tây Lăng (西陵), tên Luy Tổ (嫘祖), người phát minh và dạy nhân dân nuôi tằm, dệt tơ để làm y phục, nên có hiệu là Tiên Tàm (先蠶). Bà Thứ Phi là Mô Mẫu (嫫母), tuy hình dung xấu xí nhưng đức hạnh cao thượng, rất được Hoàng Đế kính trọng. Ông có 25 người con, trong số đó 14 người được phong cho 12 họ khác nhau, gồm: Cơ (), Tây (), Kì (), Kỷ (), Đằng (), Hàm (), Nhiệm (), Tuân (), Hy (), Cật (), Huyên (), Y (). Các đời vua Thiếu Hạo (少昊), Chuyên Húc (顓頊), Đế Khốc (帝嚳), Đường Nghiêu (唐堯), Ngu Thuấn (虞舜), cho đến vua triều nhà Hạ (), Thương (), Chu () đều là con cháu của Hoàng Đế. Sau khi qua đời, Hoàng Đế được an táng tại Kiều Sơn (橋山), tức là Hoàng Đế Lăng (黃帝陵) ở Tỉnh Thiểm Tây (陝西) ngày nay. Trong Đạo Giáo, ông được xem như là một trong những người khai sáng ra tôn giáo nầy. Trong bài Đông Đô Phú (東都賦) của Ban Cố (班固) nhà Hán có đoạn ca ngợi công lao của Hiên Viên rằng: “Phân xuyên thổ, lập thị triều, tác chu dư, tạo khí giới, tư nãi Hiên Viên Thị chi sở khai đế công dã (分州土立市朝作舟輿造器械斯乃軒轅氏之所以開帝功也, chia sông hồ, đất đai; lập chợ, triều đình; làm thuyền, xe; tạo khí giới; thảy đều là công khai sáng đầu tiên của Hiên Viên Thị).”
  4. Điêu lương họa đống (彫樑畫棟): khắc vẽ trên nóc nhà, xà nhà cũng như các trụ cột khác để thể hiện sự hoa lệ của căn nhà. Đây cũng là hình thức từ ban sơ tổ tiên con người thực hiện khi làm nhà. Như trong bài Ngọc Lâu Xuân (玉樓春) của Tống Trưng Dư (宋徵輿, 1618-1667) nhà Minh có câu: “Điêu lương họa đống nguyên vô số, bất vấn chủ nhân tùy ý trú (彫梁畫棟原無數不問主人隨意住, khắc vẽ khắp nhà nguyên vô số, chẳng hỏi chủ nhân tùy ý ở).”
  5. Lỗ Thị (魯氏): tức Lỗ Ban (魯般魯班), người thợ kiến trúc kiệt xuất, nỗi tiếng của nước Lỗ dưới thời nhà Chu, ông họ là Công Thâu (公輸), kỹ nghệ siêu tuyệt, có nhiều phát minh lạ, đời sau tôn sùng ông là tổ sư của nghề mộc. Có thuyết cho rằng Công Thâu Tử (公輸子) cùng nhân vật với Lỗ Ban nầy, nhưng cũng có thuyết cho là khác. Tương truyền ông chế ra cái thang dài đến tận mây xanh (vân thê[雲梯], dùng làm khí giới tấn công thành quách) và con diều gỗ (mộc diên [木鳶], có thể giống như chiếc máy bay). Như trong Mạnh Tử (孟子), phần Ly Lâu Thượng (離婁上) có câu: “Ly Lâu chi minh, Công Thâu Tử chi công, bất dĩ quy củ, bất năng thành phương viên (離婁之明公輸子之巧不以規矩不能成方員, sự sáng suốt của Ly Lâu, tài khéo tay của Công Thâu Tử, nếu không theo quy củ, không thể thành vuông tròn).” Hay trong Nhật Dụng Tục Tự (日用俗字), phần Mộc Tượng (木匠) của Bồ Tùng Linh (蒲松齡, 1640-1715) nhà Thanh có giải thích rằng: “Mộc tượng tổ sư thị Lỗ Ban, gia hỏa học thành tải nhất thuyền (木匠祖師是魯班家伙學成載一船, tổ sư nghề mộc là Lỗ Ban, từ những điều góp nhặt học thành, chở đầy một thuyền).” Về lai lịch của ông, trong Tây Dương Tạp Trở (酉陽雜俎) Tục Tập, quyển 4 có ghi rằng: “Cứ Triều Dã Thiêm Tải vân: ‘Lỗ Ban giả, Túc Châu Đôn Hoàng nhân, mạc tường niên đại, công mâu tạo hóa; ư Lương Châu tạo Phù Đồ, tác mộc diên, mỗi kích tiết tam hạ, thừa chi dĩ quy; vô hà, kỳ thê hữu nhâm; phụ mẫu cật chi, thê cụ thuyết kỳ cố; phụ hậu tứ đắc diên, kích tiết thập dư hạ thừa chi, toại chí Ngô hội; Ngô nhân dĩ vi yêu, toại sát chi; Ban hựu vi mộc diên thừa chi, toại hoạch phụ thi; oán Ngô nhân sát kỳ phụ, ư Túc Châu thành Nam tác nhất mộc tiên nhân, cử thủ chỉ Đông Nam, Ngô địa đại hạn tam niên; Bặc viết Ban sở vi dã; tê vật cụ thiên số tạ chi; Ban vi đoạn nhất thủ, kỳ nhật Ngô trung đại vũ; quốc sơ, thổ nhân thượng kỳ đảo kỳ mộc tiên; Lục Quốc thời, Công Thâu Ban diệc vi mộc diên dĩ khuy Tống thành’ (據朝野僉載雲魯般者肅州敦煌人莫詳年代巧侔造化於涼州造浮圖作木鳶每擊楔三下乘之以歸無何其妻有妊父母詰之妻具說其故父後伺得鳶擊楔十余下乘之遂至吳會吳人以爲妖遂殺之般又爲木鳶乘之遂獲父屍怨吳人殺其父於肅州城南作一木仙人舉手指東南吳地大旱三年蔔曰般所爲也賫物具千數謝之般爲斷一手其日吳中大雨國初土人尚祈禱其木仙六國時公輸般亦爲木鳶以窺宋城, theo Triều Dã Thiêm Tải cho rằng: ‘Lỗ Ban là người Đôn Hoàng, Túc Châu, không rõ niên đại, khéo tay nằng tạo hóa; tại Lương Châu ông từng dựng chùa Phật, làm diều gỗ; mỗi lần vỗ nó vào ba lần, cỡi lên diều trở về nhà; không hiểu vì sao, vợ ông mang thai, cha mẹ đều hỏi han; vợ ông kể rõ nguyên do; sau đó người cha dò xét xem sao và có được diều gỗ; ông vỗ vào hơn mười lần, rồi cỡi lên bèn đến đất Ngô; dân Ngô cho đó là yêu quái, liền giết chết ông; Lỗ Ban lại cỡi lên con diều gỗ, lấy được thi hà phụ thân, oán hận dân Ngô giết cha mình, bèn làm một hình tiên nhân bằng gỗ ở phía Nam thành Túc Châu, đưa tay chỉ về hướng Đông Nam, từ đó đất Ngô bị hạn hán ba năm; vua Bặc bảo rằng đó là do Lỗ Ban làm ra, bèn sai đem vật phẩm đủ số ngàn tạ ông; Lỗ Ban chém đứt một tay người gỗ, ngày hôm ấy trong nước Ngô mưa lớn; lúc mới lập quốc, người dân trong vùng vẫn thường cầu nguyện tiên nhân gỗ; đến thời Lục Quốc, Công Thâu Ban cũng dùng diều gỗ để thám thính thành nhà Tống’).” Theo Lỗ Ban Kinh (魯班經), phần Lỗ Ban Tiên Sư Nguyên Lưu (魯班先師源流) của Đạo Giáo cho rằng ông húy là Ban, họ Công Thâu (公輸), tự là Y Trí (依智), người Thôn Đông Bình (東平村); cha húy là Hiền (), mẹ họ Ngô (), người nước Lỗ; nên được lấy tên nước làm họ; sanh vào năm thứ 13 (507 ttl.) đời Chu Kính Vương (周敬王) và mất năm thứ 25 (444 ttl.) đời vua Chu Trinh Định Vương (周貞定王). Lỗ Ban còn nổi tiếng về bùa, chú, ếm đối, nên thường có loại Bùa Lỗ Ban. Trong dân gian vẫn thường có thành ngữ “Ban môn lộng phủ (班門弄斧), nghĩa là múa búa trước cửa Lỗ Ban, hay múa rìu qua mắt thợ, là để chỉ người không biết liệu tài sức của mình, dám khoe tài trước mặt bực thầy, nên chỉ làm trò cười cho thiên hạ mà thôi. Như trong bài Dữ Mai Thánh Du Thư (與梅聖俞書) của văn học gia Âu Dương Tu (歐陽修, 1007-1072) nhà Tống có câu: “Tạc tại Chơn Định, hữu thi thất bát thủ, kim lục khứ, Ban môn lộng phủ, khả tiếu khả tiếu (昨在 眞定、有詩七八首今錄去 班門弄斧可笑可笑, hôm qua tại Chơn Định, có làm bảy tám câu thơ, nay xem lại, đúng là múa búa trước cửa Lỗ Ban, nực cười nực cười thay !).” Hiện tại vẫn lưu hành Thước Lỗ Ban (魯班尺), hay thường được gọi là Thước Văn Công (文公尺), dài 1 thước 4 tấc 1 phân, lấy 5 chữ sanh (), lão (), bệnh (), tử (), khổ () làm cơ sở, chia thành 8 cách, mỗi cách có cát hung, tốt xấu, theo đó phân thành 8 cung: (1) Tài (, tiền tài, tài năng), (2) Bệnh (, bệnh hoạn, bất lợi), (3) Ly (, Lục Thân ly tán, chia lìa) (4) Nghĩa (, phù hợp chính nghĩa, quy phạm đạo đức, hay khuyên người làm việc thiện), (5) Quan (, vận làm quan, chức quyền cao), (6) Kiếp (, bị cướp đoạt, áp bức), (7) Hại (, hoạn nạn, nguy hại), (8) Bổn (, bản vị hay bản thể của sự vật).
  6. Bốc trúc (卜築): hay bốc cư (卜居), nghĩa là người xưa dùng phương pháp bói toán, Phong Thủy để chọn lựa chỗ ở với khát vọng muốn được an cư lạc nghiệp. Như trong bài Đông Chí Hậu Quá Ngô Trương Nhị Tử Đàn Khê Biệt Nghiệp (冬至後過吳張二子檀溪別業) của Mạnh Hạo Nhiên (孟浩然, 689-740) nhà Đường có câu: “Bốc trúc nhân tự nhiên, Đàn Khê bất cánh xuyên (卜築因自然檀溪不更穿, chọn nơi ở tự nhiên, Đàn Khê chớ xuyên qua).” Hay trong bài thơ Hán Thượng Đề Vi Thị Trang (漢上題韋氏莊) của Nhung Dục (戎昱, ?-?) nhà Đường cũng có câu: “Kết mao đồng Sở khách, bốc trúc Hán giang biên, nhật lạc sổ quy điểu, dạ thâm văn khấu huyền, thủy ngấn xâm ngạn liễu, sơn thúy tá trù yên, điều tiếu đề khuôn phụ, xuân lai tàm kỉ miên (結茅同楚客卜築漢江邊日落數歸鳥夜深聞扣舷水痕侵岸柳山翠借廚煙調笑提筐婦春來蠶幾眠, làm nhà cùng khách Sở, chọn chỗ sông Hán bên, chiều lặn chim về tổ, đêm khuya nghe mái thuyền, mực nước thấm bờ liễu, núi xanh vương khói tiên, khúc khích mang giỏ nữ, xuân về tằm ngủ yên).” Hoặc như trong Cư Sĩ Truyện (居士傳, CBETA No. 1646) quyển 10, truyện Lưu Sĩ Quang (劉士光) lại có đoạn rằng: “Sảng Độ thâm tín Phật pháp, tằng dữ Sĩ Quang thính giảng ư Chung Sơn chư tự; nhân cọng bốc trúc Tống Hy Tự đông giản, hữu chung yên chi chí; Thiên Giám thập thất niên tốt ư Sĩ Quang xá (彥度深信佛法。曾與士光聽講於鍾山諸寺。因共卜築宋熙寺東澗。有終焉之志。天監十七年卒於士光舍, Sảng Độ thâm tín Phật pháp, đã từng cùng với Sĩ Quang nghe thuyết giảng ở các chùa Chung Sơn; nhân đó cả hai cùng chọn nơi ở khe suối phía Đông Tống Hy Tự và cuối cùng thỏa chí nguyện của họ; vào năm thứ 17 [518] niên hiệu Thiên Giám, Sảng Độ qua đời tại nhà của Sĩ Quang).”
  7. Phục thi (伏屍): thây chết nằm trên mặt đất, như trong Chiến Quốc Sách (戰國策), phần Ngụy Sách (魏策) thứ 4 có câu: “Nhược sĩ tất nỗ, phục thi nhị nhân, lưu huyết ngũ bộ (若士必怒伏屍二人流血五步, nếu là kẻ sĩ tất uy thế, xác chết hai người, máu chảy dài năm bước).” Hay trong Văn Tuyển (文選), phần Cổ Nghi (賈誼), Quá Tần Luận (過秦論) lại có câu: “Truy vong trục bắc, phục thi bách vạn, lưu huyết phiêu lỗ (追亡逐北伏尸百萬流血漂櫓, đuổi giặc về phướng bắc, thấy chết cả trăm vạn, máu chảy đầy khắp).” Hoặc trong Thái Bình Quảng Ký (太平廣記) quyển 317 có đoạn: “Trung hữu phục thi, Trúc dạ văn kỳ khấp thanh, hốt kiến nhất phụ nhân, đản bối nhi lai (中有伏尸竺夜聞其泣聲忽見一婦人袒背而來, bên trong có thấy chết; ban đêm Trúc nghe tiếng khóc của thây ma đó, lại chợt thấy một phụ nữ, mặc áo để lộ vai đi đến).” Trong Phật Thuyết Địa Tạng Bồ Tát Phát Tâm Nhân Duyên Thập Vương Kinh (佛說地藏菩薩發心因緣十王經, CBETA No. 20) cũng có đoạn như sau: “Như kim chúng sanh, y ngã tu thiện, linh đắc Phật đạo; nhất thiết chúng sanh, diệc phục như thị, thất chủng phách thức; nhất danh Tước Âm Phách Thần Thức, nhị danh Thiên Tặc Phách Thần Thức, tam danh Phi Độc Phách Thần Thức, tứ danh Thi Cấu Phách Thần Thức, ngũ danh Xú Phế Phách Thần Thức, lục danh Trừ Uế Phách Thần Thức, thất danh Phục Thi Phách Thần Thức (如今眾生依我修善令得佛道一切眾生亦復如是七種魄識一名雀陰魄神識二名天賊魄神識三名非毒魄神識四名尸垢魄神識五名臭肺魄神識六名除穢魄神識七名伏尸魄神識, như nay chúng sanh, theo ta tu thiện, khiến được Phật đạo; hết thảy chúng sanh, cũng lại như vậy, bảy loại phách thức; một là Tước Âm Phách Thần Thức, hai là Thiên Tặc Phách Thần Thức, ba là Phi Độc Phách Thần Thức, bốn là Thi Cấu Phách Thần Thức, năm là Xú Phế Phách Thần Thức, sáu là Trừ Uế Phách Thần Thức, bảy là Phục Thi Phách Thần Thức).”
  8. Thừa Thiên Hiệu Pháp Khai Hoàng Hậu Thổ Nguyên Quân (承天効法開皇后土元君): còn gọi là Hậu Thổ Hoàng Địa Kỳ (后土皇地祇), Địa Mẫu Nương Nương (地母娘娘), Hậu Thổ Nương Nương (后土娘娘), Thừa Thiên Hiệu Pháp Hậu Đức Quang Đại Hậu Thổ Hoàng Địa Kỳ (承天効法厚德光大后土皇地祇), là danh hiệu của vị thần trong Đạo Giáo, chuyên chấp chưởng việc sinh dục của âm dương, là vị nữ thần tượng trưng cho cái đẹp của tất cả vạn vật và sự tú lệ của sơn hà đại địa.
  9. Cửu Lũy (九壘): Đạo Giáo chia thế giới dưới lòng đất (thế giới U Minh, hay Địa Ngục) làm 9 tầng, gọi là Cửu Lũy; trong đó mỗi Lũy có 4 tầng, cọng thành 36 tầng, mỗi Lũy đều có 1 vị Thổ Hoàng (土皇) cai quản. Theo Động Huyền Linh Bảo Hà Đồ Ngưỡng Tạ Tam Thập Lục Thổ Hoàng Trai Nghi (洞玄靈寶河圖仰謝三十六土皇齋儀), tên gọi Cửu Lũy gồm: (1) Sắc Nhuận Địa (色潤地) có vị Thổ Hoàng thứ nhất họ Tần (), húy là Hiếu Cảnh Thung (孝景椿); vị thứ 2 họ Hoàng (), Húy Xương Thượng Văn (昌上文); vị thứ 3 họ Thanh (), húy Huyền Văn Cơ (玄文基); vị thứ 4 họ Phỉ (), húy là Trung Trận Hoàng (忠陣皇). (2) Cang Sắc Địa (剛色地) có vị Thổ Hoàng thứ 5 họ Thú (), húy là Thần Văn Quang (神文光); vị thứ 6 họ Úc (), húy là Hoàng Mẫu Sanh (黃母生); vị thứ 7 họ Huyền (), húy là Càn Đức Duy (乾德維); vị thứ 8 họ Trường (), húy là Hoàng Minh (皇明). (3) Thạch Lạp Sắc Trạch Địa (色澤地) có vị Thổ Hoàng thứ 9 họ Trương (), húy là Duy Thần (維神); vị thứ 10 họ Châu (), húy là Bá Thượng Nhân (伯上人); vị thứ 11 họ Chu (), húy là Minh Xa Tử (明車子); vị thứ 12 họ Canh (), húy là Văn Kính Sĩ (文敬士). (4) Nhuận Trạch Địa (潤澤地) có vị Thổ Hoàng thứ 13 họ Cổ (), húy là Vân Tử Cao (雲子高); vị thứ 14 họ Tạ (), húy là Bá Vô Nguyên (伯無元); vị thứ 15 họ Kỷ (), húy là Văn Thái Trận (文泰陣); vị thứ 16 họ Hành (), húy là Cơ Chánh Phương (機正方). (5) Kim Túc Trạch Địa (金粟澤地) có vị Thổ Hoàng thứ 17 họ Hoa (), húy là Diên Kỳ Minh (延期明); vị thứ 18 họ Hoàng (), húy là Linh Ngã Dung (齡我容); vị thứ 19 họ Vân (), húy là Thám Vô Uyên (探無淵); vị thứ 20 họ Tương (), húy là Thông Bát Quang (通八光). (6) Kim Cang Thiết Trạch Địa (金剛鐵澤地) có vị Thổ Hoàng thứ 21 họ Lý (), húy là Thượng Thiếu Quân (上少君); vị thứ 22 họ Phạm (), húy là Lai Lực An (來力安); vị thứ 23 họ Trương (), húy là Quý Quý Nguyên (李季元); vị thứ 24 họ Vương (), húy là Tứ Nữ Dung (駟女容). (7) Thủy Chế Trạch Địa (水制澤地) có vị Thổ Hoàng thứ 25 họ Đường (), húy là Sơ Sanh Ánh (初生映); vị thứ 26 họ Ngô (), húy là Chánh Pháp Đồ (正法圖); vị thứ 27 họ Hán (), húy là Cao Văn Triệt (高文徹); vị thứ 28 họ Kinh (), húy là Trọng Long Thủ (仲龍首). (8) Đại Phong Trạch Địa (大風澤地) có vị Thổ Hoàng thứ 29 họ Cát (), húy là Huyền Thăng Quang (玄升光); vị thứ 30 họ Hoa (), húy là Mậu Vân Trường (茂雲長); vị thứ 31 họ Dương (), húy là Chơn Động Huyền (洞玄); vị thứ 32 họ Châu (), húy là Thượng Kính Nguyên (尚敬原). (9) Động Uyên Vô Sắc Cang Duy Địa (洞淵無色剛維地) có vị Thổ Hoàng thứ 33 họ Cực (), húy là Vô Thượng Huyền (無上玄); vị thứ 34 họ Thăng (), húy là Linh Nguyên Hạo (靈元浩); vị thứ 35 họ Triệu (), húy là Thượng Bá Huyền (上伯玄); vị thứ 36 họ Nông (), húy là Lặc Vô Bá (勒無伯). Trong tác phẩm Vô Thượng Hoàng Lục Đại Trai Lập Thành Nghi (無上黃籙大齋立成儀) do Tương Thúc Dư (蔣叔輿) nhà Nam Tống biên soạn có thêm vào hai chữ Hậu Thổ (后土) trước mỗi danh hiệu của các vị Thổ Hoàng để cho biết rằng Đạo Giáo dưới thời kỳ nầy xem Thổ Hoàng là những vị thần linh thuộc hạ của Hậu Thổ. Tại điện thờ Tứ Ngự đều có an trí thần tượng hay thần vị của 36 vị Thổ Hoàng nầy. Trong các trai đàn cúng tế lớn đều có dâng cúng 36 vị Thiên Đế cũng như 36 vị Thổ Hoàng.
  10. Bắc Cực Tử Vi Đại Đế (北極紫微大帝): còn gọi là Trung Thiên Tử Vi Bắc Cực Đại Đế (中天紫微北極大帝), Bắc Cực Đại Đế (北極大帝), Bắc Cực Tinh Quân (北極星君), là tên gọi của một ngôi sao ở Bắc Cực được thần cách hóa, thuộc một trong Tứ Cực (四極, gồm Bắc Cực Tử Vi Đại Đế [北極紫微大帝], Nam Cực Trường Sanh Đại Đế [南極長生大帝], Thái Cực Thiên Hoàng Đại Đế [太極天皇大帝] và Đông Cực Thanh Hoa Đại Đế [東極青華大帝]). Nguyên lai tín ngưỡng về Tử Vi Bắc Cực Đại Đế vốn phát xuất từ sự sùng bái của cổ đại Trung Quốc về các tinh tú. Bắc Cực là từ gọi tắt của Bắc Cực Tinh (北極星), còn gọi là Bắc Thần (北辰), Thiên Xu (天樞), ngự ở nội vức Tử Vi. Thượng Thanh Linh Bảo Đại Pháp (上清靈寶大法) quyển 4 có giải thích rằng: “Bắc Cực Đại Đế là vị vua ngự ở nội vức Tử Vi”. Theo Thiên Văn Chí (天文志) cho biết rằng: “Sao Nam Cực vào trong lòng đất 36 lần, sao Bắc Cực ra khỏi lòng đất 36 lần, hình trời nghiêng qua một bên. Rồi sao Bắc Cực ra khỏi lòng đất một nữa, sau trở vào trong lòng đất một nữa; vạn sao vạn khí đều tụ về bên trái, chỉ có các sao ở Nam Bắc Cực thì bất động; nên trời nhân đó mà chuyển động. Người đời nhìn thấy sao nầy ở phương Bắc, nên gọi là Bắc Cực; nhưng thật ra sao nầy ngự ở trung ương. Nó là tông chủ của vạn vật, là vua kế của Ba Cõi, chỉ sau vua Ngô thôi, trên ứng nguyên khí, chính là Bắc Cực Tử Vi Đại Đế”. Hậu Hán Thư (後漢書) quyển 48 có đoạn rằng: “Trời có Cung Tử Vi, là nơi ở của Thượng Đế”. Vì vậy nội vức Tử Vi chính là Cung Tử Vi; về sau Hoàng Đế cũng gọi nơi cư trú của mình là Tử Vi Thành (紫微). Đạo Giáo cho rằng Bắc Thần là ngôi sao vĩnh viễn bất động, nằm ngay ở trung gian trên trời, ở vị trí tối cao, vô cùng tôn quý, được gọi là “chủ của các vì sao”, “gốc của các vị thần”; do đó, vì sao nầy được tôn kính nhất so với các sao khác. Thiên Văn Chí còn giải thích thêm rằng: “Năm sao Bắc Cực, sáu sao Câu Trần [], đều ở trong Cung Tử Vi. Bắc Cực là ngôi sao tối tôn; là sao của trời; giữ ngôi vị Đại Đế, thường cư ngôi vị Thiên Tử”. Sách Thuyết Mệnh (說命) của Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) nhà Đường có viết rằng: “Sao Bắc Đẩu chạy vòng quanh sao Bắc Cực, giống như các khanh tướng bảo vệ chung quanh Thiên Tử; 5 sao lớn điều khiển các sao nhỏ, giống như quan Châu Mục giám sát chư hầu. Hai Mươi Tám Sao Nhỏ rải rác khắp bốn phương, giống như chư hầu giữ gìn đất đai cho Thiên Tử”. Về lai lịch của Tử Vi Bắc Cực Đại Đế, Thái Thượng Thuyết Huyền Thiên Đại Thánh Chơn Võ Bổn Truyền Thần Chú Diệu Kinh (太上說玄天大聖眞武本傳神咒妙經) có nêu Bắc Đẩu Bản Sanh Kinh (北斗本生經) và cho rằng: “Xưa kia, vào kiếp đầu thời Long Hán (龍漢), có Châu Thượng Ngự Quốc Tử Quang Phu Nhân (周上御國光夫人), nhân ngày đầu xuân, đi du ngoạn đến bên hồ ngọc ấm áp, bèn cởi áo xuống tắm; chơt cảm thấy 9 đài hoa sen đều cùng nở, hóa thành 9 đứa con; nhân đó phu nhân đem về nuôi dưỡng trong cung, với chí nguyện cho chúng trở thành thánh triết, phò trợ càn khôn. Mấy người con lớn lên đều khỏe mạnh, quyết chí tu dưỡng, thảy đều được chức cao ở Tam Thanh (三清). Thiên Hoàng Đại Đế là trưởng tử, chủ lãnh các vì sao và chăm sóc kỷ cương của Cung Tử Vi. Tử Vi Đại Đế là người con thứ hai, chấp chưởng thống nhiếp cõi trần gian tại Mục Minh Đường (目明堂) cõi Bắc Cực.” Trong kinh điển Đạo Giáo có đề cập đến chức năng của Tử Vi Bắc Cực Đại Đế là chấp chưởng các kinh vĩ của trời đất, thống suất các thần sao của Ba Cõi cũng như các thần sông núi, là vua tạo ra các hiện tượng, có thể hô phong hoán vũ, sai khiến các quỷ thần sấm chớp. Như Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Tích Hóa Thiên Tôn Ngọc Xu Bảo Kinh Tập Chú (九天應元雷聲昔化天尊玉樞寶經集注) có giải thích: “Bắc Cực Tử Vi Đại Đế chấp chưởng Ngũ Lôi”. Do đó, Tử Vi Đại Đế đã được lịch đại các vị đế vương sùng bái. Thậm chí dưới thời nhà Tống, ngài được phụng thờ ngang hàng với Ngọc Hoàng Đại Đế (玉皇大帝). Hiện tại, chúng ta có thể thấy thần tượng Tử Vi Đại Đế được tôn tạo dưới thời nhà Tống ở vùng Đại Túc (大足), Tứ Xuyên (四川), v.v. Bộ Minh sử Lễ Chí (禮志) quyển 4 có ghi rằng: “Đến sáng, cung đình ban sắc chỉ xây dựng Tử Vi Điện, dựng tượng để cúng tâu”. Hình tượng của ngài chẳng khác gì đế vương, hai bên đều có các Võ Tướng oai phong hộ vệ, rất cao quý và uy nghiêm. Ngày đản sanh của Tử Vi Đại Đế là 18 tháng 4 âm lịch.
  11. Nam Cực Trường Sanh Đại Đế (南極長生大帝): còn gọi là Trường Sanh Đại Đế (長生大帝), Nam Cực Trường Sanh Ty Mạng Quân (南極長生司命君), Nam Cực Trường Sanh Đế Quân (南極長生帝君); là một trong Tứ Ngự (四御, tức Bắc Cực Tử Vi Đại Đế [北極紫微大帝], Nam Cực Trường Sanh Đại Đế [南極長生大帝], Thái Cực Thiên Hoàng Đại Đế [太極天皇大帝] và Đông Cực Thanh Hoa Đại Đế [東極青華大帝]) của Đạo Giáo. Truyền thuyết dân gian cho rằng Đại Đế họ Vương (), húy Danh Cải Sanh (名改生), tự là Dị Độ (易度). Lúc trời đất đang còn mờ mịt, Trường Sanh Ty Mạng Quân đản sanh ở thành Đông Lâm Quang Xương (東林廣昌), Làng Trường Lạc (長樂鄉). Năm lên 14 tuổi, ông lìa xa cuộc sống thế tục, tâm mến mộ thần tiên; tình cờ gặp được Tiên Sinh Tử Phủ Hoa (紫府華), truyền trao cho phép âm dương bổ dưỡng, giảm tử hoàn sinh, các phép biến hóa thần thông. Nhờ vậy ông hưởng thọ 400 tuổi, thường ẩn cư trong hang núi. Ông còn bái Tiên Sinh Tuân Đồ (詢屠) làm thầy, thọ nhận kim đan luyện kinh, luyện khí bay bổng như mây, pháp thuật hiện trong sương, lặn trong tuyết, v.v. Sau đó, ông lại hành trì kinh 7 năm trong Không Động Sơn (崆峒山) ở Thần Châu (神州), may gặp Thái Ất Chân Nhân (太乙) truyền cho phương thuật luyện đan của Đế Quân. Ngày thánh đản của Trường Sanh Đại Đế là mồng 1 tháng 5 Âm Lịch. Trong Thái Thượng Vô Cực Đại Đạo Tam Thập Lục Bộ Tôn Kinh (太上無極大道三十六部尊經) có câu kính lễ rằng: “Chí tâm quy mạng lễ, Cao Thượng Thần Tiêu Phủ, Ngưng Thần Hoán Chiếu Cung, hội nguyên thỉ bảo khí dĩ phân chơn, ứng diệu đạo hư vô nhi khai hóa, vị hồ Cửu Tiêu chi thượng, thống lý chư thiên, tổng hồ Thập Cực chi trung, tể chế vạn hóa, tuyên Kim Phù nhi thùy quang tế khổ, thí huệ trạch nhi phú dục triệu dân, ân phổ càn nguyên, nhân phu hạo kiếp, Đại Bi Đại Nguyện, Đại Thánh Đại Từ, Ngọc Thanh Chơn Vương, Nam Cực Trường Sanh Đại Đế, Thống Thiên Nguyên Thánh Thiên Tôn (志心皈命禮、高上神霄府、凝神煥照宮、會元始褓氣以分、應妙道虛無而開化、位乎九霄之上、統理諸天、總乎十極之中、宰制萬化、宣金符而垂光濟苦、施惠澤而覆育兆民、恩溥乾元、仁敷浩劫、大悲大願、大聖大慈、玉清王、南極長生大帝、統天元聖天尊, Một lòng quy mạng lễ, Cao Thượng Thần Tiêu Phủ, Ngưng Thần Hoán Chiếu Cung, gặp ban sơ nuôi khí để phân chơn, ứng đạo mầu hư vô mà khai hóa, địa vị trên chốn Cửu Tiêu, thống lý các Trời, tổng coi hết trong Mười Cực, chúa tể muôn loài, tuyên Kim Phù mà phóng quang cứu khổ, ban ơn huệ để nuôi nấng triệu dân, ơn khắp càn khôn, nhân đức muôn kiếp, Đại Bi Đại Nguyện, Đại Thánh Đại Từ, Ngọc Thanh Chơn Vương, Nam Cực Trường Sanh Đại Đế, Thống Thiên Nguyên Thánh Thiên Tôn).”
  12. Đông Cực Thanh Hoa Đại Đế (東極青華大帝): còn gọi là Thanh Huyền Cửu Dương Thượng Đế (青玄九陽上帝), là hóa thân của Đông Hoa Đế Quân (東華帝君), tức Mộc Công (木公) hay Đoàn Hoa Mộc Công, ngự tại Đông Cực (東極). Hậu thế thường cho là Đông Cực Thanh Hoa Đại Đế và Đông Hoa Đế Quân có cùng nguyên khí hóa hợp; nhưng thực thế thì Đông Hoa Đế Quân có liên quan đến Đông Vương Công (東王公). Vương Công tức là Mộc Công, hay Đông Hoàng Thái Ất (東皇太乙), cùng với Tây Vương Mẫu (西王母) quản lý hai khí, phân thành âm dương, định ra càn khôn; về sau hóa thành Đông Hoa Đại Đế (東華大帝) và Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn (太乙救苦天尊). Khí của Thanh Hoa Đại Đế hóa thành Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn, thệ nguyện cứu độ chúng sanh, nên được tôn xưng là “Vạn Vị Đế Chúa Đông Cực Thanh Hoa Đại Đế (萬彙帝主東極青華大帝)”, thuộc vào một trong Tứ Ngự của Đạo Giáo. Ngài Cứu Khổ Thiên Tôn cùng với Chu Lăng Thiên Tôn (朱陵天尊) và Độ Mạng Thiên Tôn (度命天尊) được gọi là Thái Ất Tam Cứu Khổ, là vị thần chủ tể tối cao cứu độ vạn loại. Sau khi biến hóa thành Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn, Đông Cực Thanh Hoa Đại Đế lại ứng hóa khắp mười phương, nên có hiệu là “Thập Phương Cứu Khổ Thiên Tôn (十方救苦天尊).” Chư vị Thiên Tôn trong 10 phương có hiệu là: Đông Phương Bảo Hoàng Thượng Thiên Tôn (東方寶皇上天尊), Nam Phương Huyền Chơn Vạn Phước Thiên Tôn (南方玄萬福天尊), Tây Phương Thái Diệu Chí Cực Thiên Tôn (西方太妙至極天尊), Bắc Phương Huyền Thượng Ngọc Thần Thiên Tôn (北方玄上玉宸天尊), Đông Nam Phương Hiếu Sanh Độ Thiên Tôn (東南方好生度天尊), Đông Bắc Phương Độ Tiên Thượng Thánh Thiên Tôn (東北方度仙上聖天尊), Tây Nam Phương Thái Linh Hư Hoàng Thiên Tôn (西南方太靈虛皇天尊), Tây Bắc Phương Vô Lượng Thái Hoa Thiên Tôn (西北方無量太華天尊), Thượng Phương Ngọc Hư Minh Hoàng Thiên Tôn (上方玉虛明皇天尊) và Hạ Phương Chơn Hoàng Động Thần Thiên Tôn (下方皇洞神天尊); được gọi chung là Linh Bảo Thập Phương Cứu Khổ Thiên Tôn (靈寶十方救苦天尊). Vị Thiên Tôn nầy còn quản lý luôn cả việc thần quỷ dưới Minh Phủ, hóa thành Thập Điện Minh Vương (十殿冥王) như: Đông Phương Thiên Tôn hóa thành Tần Quảng Vương (秦廣王) của điện thứ nhất, cư trú ở Huyền Minh Cung (玄冥宮); Nam Phương Thiên Tôn hóa thành Sở Giang Vương (楚江王) của điện thứ hai, cư tại Phổ Minh Cung (普明宮); Tây Phương Thiên Tôn hóa thành Tống Đế Vương (宋帝王) của điện thứ ba, cư tại Củ Tuyệt Cung (糾絕宮); Bắc Phương Thiên Tôn hóa thành Ngũ Quan Vương (五官王) của điện thứ tư, cư tại Thái Hòa Cung (太和宮); Đông Bắc Phương Thiên Tôn hóa thành Diêm La Vương (閻羅王) của điện thứ năm, cư tại Củ Luân Cung (糾倫宮); Đông Nam Phương Thiên Tôn hóa thành Biện Thành Vương (卞城王) của điện thứ sáu, cư tại Minh Thần Cung (明晨宮); Tây Nam Phương Thiên Tôn hóa thành Thái Sơn Vương (泰山王) của điện thứ bảy, cư tại Thần Hoa Cung (神華宮); Tây Bắc Phương Thiên Tôn hóa thành Bình Đẳng Vương (平等王) của điện thứ tám, cư tại Thất Phi Cung (七非宮); Thượng Phương Thiên Tôn hóa thành Đô Thị Vương (都市王) của điện thứ chín, cư tại Bích Chơn Cung (); và Hạ Phương Thiên Tôn hóa thành Chuyển Luân Vương (轉輪王) của điện thứ mười, cư tại Túc Anh Cung (肅英宮). Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn có đầy đủ thần lực tự tại, sức trí tuệ lớn vô lượng, thường giải ách nạn, phá tà, hàng ma, cũng như giải trừ hết thảy bệnh tật cho con người; cho nên cũng có tên là Thái Ất Y Vương (太乙醫王). Ngài có đủ sức thần thông nên có thể ngao du khắp nơi như lên trời, xuống cõi người, Địa Phủ, v.v. Vì vậy, trên Trời Ngài có tên là Thái Nhất Phước Thần (太一福神), trên đời gọi là Đại Từ Nhân Giả (大慈仁者), dưới lòng đất là Nhật Diệu Địa Quân (日耀地君), nơi chỗ ngoại đạo là Sư Tử Minh Vương (獅子明王), dưới Thủy Phủ là Động Uyên Đế Quân (洞淵帝君). Ngài thường hóa hiện các thân hình, theo âm thanh để cứu độ chúng sanh, nên cũng được gọi là Thái Ất Tầm Thanh Cứu Khổ Thiên Tôn (太乙尋聲救苦天尊). Trong Tống Sử (宋史), phần Phương Kỷ Truyện Hạ (方技傳下), Lâm Linh Tố (林靈素) có câu: “Thần Tiêu Ngọc Thanh Vương giả, Thượng Đế chi trưởng tử, kỳ đệ hiệu Thanh Hoa Đế Quân giả, chủ Đông phương (神霄玉清王者上帝之長子其弟號青華帝君者主東方, Thần Tiêu Ngọc Thanh Vương là trưởng tử của Thượng Đế, em trai ông hiệu Thanh Hoa Đế Quân, chủ quản phương Đông).” Hay như trong bài thơ Bộ Hư (步虛) của Lục Du (陸游, 1125-1210) nhà Tống có câu: “Bán túy kỵ nhất hạc, khứ yết Thanh Hoa Quân (半醉騎一鶴去謁青華君, nữa say cỡi con hạc, đến yết Thanh Hoa Quân).” Trong Thái Thượng Vô Cực Đại Đạo Tam Thập Lục Bộ Tôn Kinh (太上無極大道三十六部尊經) có câu kính lễ rằng: “Chí tâm quy mạng lễ, Thanh Hoa Trường Lạc Giới, Đông Cực Diệu Nghiêm Cung, Thất Bảo phương khiên lâm, Cửu Sắc Liên Hoa tòa, vạn chơn hoàn củng nội, bách ức thoại quang trung, Ngọc Thanh Linh Bảo Tôn, Ứng Hóa Huyền Nguyên Thỉ, hiệu Kiếp Thùy Từ Tế, Đại Thiên Cam Lồ Môn, Diệu Đạo Chơn Thân, Tử Kim Thoại Tướng, Tùy Cơ Phó Cảm, Thệ Nguyện Vô Biên, Đại Thánh Đại Từ, Đại Bi Đại Nguyện, Thập Phương Hóa Hiệu, Phổ Độ Chúng Sanh, Ức Ức Kiếp Trung, Độ Nhân Vô Lượng, Tầm Thanh Phó Cảm, Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn, Thanh Huyền Cửu Dương Thượng Đế (志心皈命禮、青華長樂界、東極妙嚴宮、七寶芳騫林、九色蓮花座、萬環拱內、百億瑞光中、玉清靈寶尊、應化玄元始、號劫垂慈濟、大千甘露門、妙道眞身、紫金瑞相、隨機赴感、誓願無邊、大聖大慈、大悲大願、十方化號、普度眾生、億億劫中、度人無量、尋聲赴感、太乙救苦天尊、青玄九陽上帝, Một lòng quy mạng lễ, Thanh Hoa Trường Lạc Giới, Đông Cực Diệu Nghiêm Cung, rừng hương thơm Bảy Báu, tòa Hoa Sen Chín Sắc, vạn loài đều củng phục, trong trăm ức hào quang, Đấng Ngọc Thanh Linh Bảo, Ứng Hóa Huyền Nguyên Thỉ, hiệu Kiếp Thùy Từ Tế, Đại Thiên Cam Lồ Môn, Diệu Đạo Chơn Thân, Tử Kim Thoại Tướng, Tùy Cơ Phó Cảm, Thệ Nguyện Vô Biên, Đại Thánh Đại Từ, Đại Bi Đại Nguyện, Mười Phương Hóa Hiệu, Phổ Độ Chúng Sanh, Trong Muôn Ức Kiếp, Độ Người Vô Lượng, Tầm Thanh Phó Cảm, Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn, Thanh Huyền Cửu Dương Thượng Đế).” Ngày thánh đản của Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn là 11 tháng 11 Âm Lịch.
  13. Tam Hà (三河): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Dưới thời nhà Hán, là tên gọi của 3 quận Hà Nội (河內), Hà Đông (河東) và Hà Nam (河南), tức hiện tại là Tỉnh Hà Nam (河南省), Phố Lạc Dương (洛陽市) và một dãy Nam Bắc. Như trong Sử Ký (史記), phần Hóa Thực Liệt Truyện (貨殖列傳) có đoạn rằng: “Tích Đường nhân đô Hà Đông, Ân nhân đô Hà Nội, Chu nhân đô Hà Nam; phù Tam Hà, tại thiên hạ chi trung; nhược đỉnh túc, vương giả sở cánh cư dã (昔唐人都河東殷人都河內周人都河南夫三河在天下之中若鼎足王者所更居也, xưa kia kinh đô nhà Đường là Hà Đông, kinh đô nhà Ân là Hà Nội, kinh đô nhà Chu là Hà Nam; phàm ba quận nầy ở trong thiên hạ; nếu kết hợp thành thế chân vạc, là chốn an cư của bậc đế vương).” (2) Chỉ cho 3 con sông Hoàng Hà (黃河), Tứ Chi Hà (賜支河) và Hoàng Hà (湟河). Như trong bài Nghệ Lâm Phạt Sơn (藝林伐山), phần Tam Hà (三河) của Dương Thận (楊愼, 1488-1559) nhà Minh có câu: “Đường thi ‘Thiên Tử Tam Hà mộ thiếu niên’ (唐詩天子三河募少年, thơ Đường có câu ‘ba sông của Thiên Tử chiêu mộ thiếu niên’).” (3) Chỉ cho 3 con sông Hoàng Hà (黃河), Hoài Hà (淮河) và Lạc Hà (洛河); và đôi khi cũng chỉ cho tất cả các sông ngòi.
  14. Tứ Hải (四海): (1) Trong biển lớn của bốn phương. (2) Bốn biển lớn ở các phương: Đông Hải (東海), Tây Hải (西海), Nam Hải (南海) và Bắc Hải (北海); từ đó, nó có nghĩa là thế giới. Trong dân gian thường có thuật ngữ “tứ hải huynh đệ (四海兄弟, bốn biển khắp nơi là anh em)”, “tứ hải đồng bào (四海, khắp nơi trên thế giới là đồng bào)”; như trong Luận Ngữ (論語), phần Nhan Uyên (顔淵) có câu: “Tứ hải chi nội, giai huynh đệ dã (四海之內、皆兄弟也, trong bốn biển đều là anh em).” Hay thuật ngữ “tứ hải vi gia (四海爲家, bốn biển là nhà)” để ám chỉ rằng trong bốn biển lớn, tức trên khắp thế giới, nơi đâu cũng là nhà, với ý nghĩa thể hiện sự cai trị của đế vương cùng khắp thiên hạ. Như bài Tây Kinh Phú (西京賦) của Trương Hành (張衡, 78-139) nhà Hán có câu: “Phương kim Thánh thượng, đồng thiên hiệu ư Đế Hoàng, yểm tứ hải nhi vi gia (方今聖上同天號於帝皇掩四海而爲家, như nay Thánh thượng, cùng hiệu Trời làm Hoàng Đế, thâu bốn biển mà làm nhà).” Hoặc trong bài Ngâm Kiếm Thi (吟劍詩) của Hồng Tú Toàn (洪秀全, 1814-1864) nhà Thanh lại có câu: “Thủ trì tam xích định sơn hà, tứ hải vi gia cọng ẩm hòa (手持三尺定山河四海爲家共飲和, tay cầm tấc kiếm định sơn hà, bốn biển là nhà cùng uống qua).”
  15. Tam Hà Tứ Hải Cửu Giang (三河四海九江): ba sông, bốn biển, chín sông, là từ chỉ chung cho những nơi có nước như ao hồ, sông ngòi, biển cả trên khắp thế giới. Như trong Thái Thượng Linh Bảo Ngọc Quỹ Minh Chơn Đại Trai Quan Công Nghi (太上靈寶玉匱明眞大齋官功儀) của Đạo Giáo có đoạn cung thỉnh rằng: “Cẩn thượng thỉnh Tam Nguyên Quân, Thượng Nguyên Thiên Quan, Trung Nguyên Địa Quan, Hạ Nguyên Thủy Quan, Tam Cung Cửu Phủ, Bách Nhị Thập Tào, Ngũ Nhạc Đại Thần, Thập Đại Động Thiên, Tam Thập Lục Động Thiên, Nhị Thập Tứ Hóa, Tam Hà Tứ Hải, Cửu Giang Thủy Đế, Thập Nhị Hà Nguyên, Cửu Cung Chân Nhân, Thập Nhị Tiên Quân, Cửu Thiên Ty Mạng, Ngũ Nhạc Trượng Nhân, Cửu Thiên Sứ Giả, Trữ Phó Chánh Chức Tá Mạng Đại Thần, Thiên Tiên Địa Tiên, Phi Tiên Thần Tiên, Vương Đồng Ngọc Nữ, binh mã kỵ thừa, giáng lâm tiêu tòa (謹上請三元君上元天官中元地官下元水官三宮九府百二十曹五嶽大神十大洞天三十六洞天二十四化三河四海九江水帝十二河源九宮眞人十二仙君九天司命五嶽丈人九天使者儲副正職佐命大神天仙地仙飛仙神仙王童玉女兵馬騎乘降臨醮座, xin cung thỉnh Tam Nguyên Quân, Thượng Nguyên Thiên Quan, Trung Nguyên Địa Quan, Hạ Nguyên Thủy Quan, Ba Cung Chín Phủ, Trăm Hai Mươi Tào, Đại Thần Năm Núi, Trời Mười Động Lớn, Trời Ba Mươi Sáu Động, Hai Mươi Bốn Hóa, Ba Sông Bốn Biển, Chín Sông Thủy Đế, Mười Hai Nguồn Sông, Chân Nhân Chín Cung, mười hai tiên quân, Cửu Thiên Ty Mạng, Ngũ Nhạc Trượng Nhân, Cửu Thiên Sứ Giả, Trữ Phó Chánh Chức Tá Mạng Đại Thần, Thiên Tiên Địa Tiên, Phi Tiên Thần Tiên, Vương Đồng Ngọc Nữ, cỡi mang binh ngựa, giáng xuống đàn cúng).” Hay như trong Thái Thượng Thần Chú Diên Thọ Diệu Kinh (太上神呪延壽妙經) cũng có đoạn: “Tam Hà Tứ Hải, Cửu Giang Bát Cực, chư chân nhân đẳng, Tiên Đồng Ngọc Nữ, Tam Giới Địa Kỳ, Tam Quan Cửu Thự, nhất thiết thần minh, văn trì thử kinh, tức vi tiêu trừ nhất thiết khổ não (三河四海九江八極諸眞人等仙童玉女三界地祇三官九署一切神明聞持此經卽爲消除一切苦惱, Ba Sông Bốn Biển, Chín Sông Tám Hướng, các vị chân nhân, Tiên Đồng Ngọc Nữ, Thổ Thần Ba Cõi, Ba Quan Chín Sảnh, hết thảy thần minh, nghe trì kinh nầy, tức được tiêu trừ hết thảy khổ ách).”
  16. Âm Phủ (陰府): tên gọi khác của Minh Phủ (, xin tham khảo thêm phần Minh Phủ), Âm Ty (陰司), Địa Ngục (地獄). Như trong Tân Tề Hài (新齊諧), phần Trang Minh Phủ (莊明府) của Viên Mai (袁枚, 1716-1797) nhà Thanh có câu: “Yến tất, Trang tri vi Âm Phủ, nhân vấn chung thân chi sự khả dự tri phủ (宴畢 知爲陰府因問終身之事可預知否, xong yến tiệc, họ Trang mới biết là Âm Phủ, bèn hỏi chuyện qua đời có thể biết trước được chăng).”
  17. Ngũ Đạo Tướng Quân (五道將軍): tên gọi vị thần của Đạo Giáo, trợ thủ quan trọng của Đông Nhạc Đại Đế (東岳大帝), chủ tể cõi Địa Ngục. Truyền thuyết ông chưởng quản việc sanh tử của con người, có chức phận tương đương với vị Phán Quan của Diêm Vương (閻王). Trong tác phẩm Hàn Cầm Hổ Thoại Bổn (韓擒虎話本) nhà Đường có câu: “Ngũ Đạo Tướng Quân, thân phi hoàng kim truy giáp, đảnh đới phụng sí, cao thanh xướng dạ (五道將軍、身披黃金錙甲、頂戴鳳翅、高聲唱諾, Ngũ Đạo Tướng Quân, thân mang áo giáp nặng hoàng kim, đầu đội cánh phụng, lớn tiếng xướng dạ).” Lại có thuyết cho rằng Ngũ Đạo Tướng Quân (五盜將軍, chữ đạo [, trộm, cắp] ở đây khác với đạo [, con đường] ở trên) là thần trộm cắp, nên nếu nằm mộng thấy vị thần nầy thì không tốt.
  18. Hành Khiển Đại Vương (行譴大王): theo quan niệm tín ngưỡng dân gian của Trung Quốc, có 12 vị Đại Vương Hành Khiển, được gọi là Thập Nhị Hành Khiển Đại Vương (十二行譴大王), cai quản nhân gian. 12 vị ứng với 12 Chi (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi). Các Đại Vương nầy còn được gọi là đương (kim) niên chi thần ([]年之神, vị thần của năm nay). Mỗi vị có trách nhiệm thống nhiếp thế gian trong vòng 1 năm, xem xét mọi chuyện tốt xấu của từng người, từng gia đình, từng thôn xã, cho đến từng quốc gia để luận tội và trình tấu lên Ngọc Hoàng Thượng Đế. Bên cạnh mỗi vị Đại Vương, thường có một vị Phán Quan trợ lý. Trong số 12 vị nầy, có rất nhân đức, độ lượng; có vị cương trực và cũng có vị rất nghiêm khắc. Tương truyền rằng có năm xảy ra loạn lạc, chiến tranh, mất mùa, thiên tai, v.v., cũng do các vị Đại Vương Hành Khiển gây ra để trừng phạt nhân gian. Tên gọi các vị Đại Vương Hành Khiển và Phán Quan như sau: (1) Năm Tý: Chu Vương Hành Khiển Đại Vương (王行譴), Thiên Ôn Hành Binh Chi Thần, Lý Tào Phán Quan; (2) Năm Sửu: Triệu Vương Hành Khiển (王行譴), Tam Thập Lục Phương Hành Binh Chi Thần, Tiêu Tào Phán Quan; (3) Năm Dần: Ngụy Vương Hành Khiển (王行譴), Mộc Tinh Chi Thần, Tiêu Tào Phán Quan; (4) Năm Mão: Trịnh Vương Hành Khiển (王行譴), Thạch Tinh Chi Thần, Liễu Tào Phán Quan; (5) Năm Thìn: Sở Vương Hành Khiển (王行譴), Hỏa Tinh Chi Thần, Biểu Tào Phán Quan; (6) Năm Tỵ: Ngô Vương Hành Khiển (王行譴), Thiên Hải Chi Thần, Hứa Tào Phán Quan; (7) Năm Ngọ: Tần Vương Hành Khiển (王行譴), Thiên Hao Chi Thần, Nhân Tào Phán Quan; (8) Năm Mùi: Tống Vương Hành Khiển (王行譴), Ngũ Đạo Chi Thần, Lâm Tào Phán Quan; (9) Năm Thân: Tề Vương Hành Khiển (王行譴), Ngũ Miếu Chi Thần, Tống Tào Phán Quan; (10) Năm Dậu: Lỗ Vương Hành Khiển (王行譴), Ngũ Nhạc Chi Thần, Cựu Tào Phán Quan; (11) Năm Tuất: Việt Vương Hành Khiển (王行譴), Thiên Bá Chi Thần, Thành Tào Phán Quan; (12) Năm Hợi: Lưu Vương Hành Khiển (王行譴), Ngũ Ôn Chi Thần, Nguyễn Tào Phán Quan. Một trong những ý nghĩa quan trọng của Lễ Giao Thừa là vì tục lệ Việt Nam chúng ta tin rằng mỗi năm có một vị Hành Khiển coi việc nhân gian, hết năm thì thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế để cung tiễn vị cũ ra đi và nghênh đón vị mới đến. Sở dĩ Lễ Giao Thừa được thiết cúng ở ngoài trời là bởi vì các cụ xưa hình dung trong phút vị cựu vương hành khiển bàn giao công việc cho tân vương luôn có quân đi, quân về đầy không trung tấp nập, vội vã; thậm chí có quan quân còn chưa kịp ăn uống gì cả.
  19. Thái Tuế (太歲): Mộc Tinh (木星, Jupiter), còn gọi là Tuế Tinh (歲星), Thái Âm (太陰), Tuế Âm (歲陰), Tuế Quân (歲君), Thái Tuế Tinh Quân (太歲星), là tên gọi của vị thần trong Đạo Giáo Trung Quốc. Ngày xưa ngôi sao nầy được dùng để đếm tuổi nên có tên gọi như vậy, về sau biến thành một loại tín ngưỡng thần linh. Thái Tuế còn là tên của một trong Lưu Niên Tuế Số Thập Nhị Thần Sát (流年歲數十二神煞), lưu hành trong 12 tháng, với câu kệ là: “Thái Tuế đương đầu tọa, chư thần bất cảm đương, tự thân vô khắc hại, tu dụng khốc đa dương (太歲當頭坐諸神不敢當自身無剋害須用哭爹娘, Thái Tuế ngay đầu tọa, các thần chẳng dám chường, tự thân không nguy hại, nên thương khóc mẹ cha).” Sao nầy có công năng đè ép các sao Thần Sát, người gặp sao nầy nếu gặp vận thì xấu nhiều tốt ít, chủ yếu gặp tai nạn bất trắc, nên làm việc phước thiện. Trong dân gian thường có từ “phạm Thái Tuế (犯太歲)”, “xung Thái Tuế (衝太歲)”, “hình Thái Tuế (刑太歲)” hay “thiên xung Thái Tuế (偏衝太歲)”. Tỷ dụ như năm nay là năm con Tỵ (, con rắn), người tuổi con rắn là phạm Thái Tuế, tuổi Hợi (, con heo) là xung Thái Tuế; tuổi Thân (, con khỉ) và Dần (, con cọp) là thiên xung Thái Tuế. Vì vậy, có câu ngạn ngữ rằng: “Thái Tuế đương đầu tọa, vô hỷ khủng hữu họa (太歲當頭坐、無喜恐有禍, Thái Tuế trên đầu ngự, chẳng vui e có họa).” Cho nên, người ta có tục lệ An Thái Tuế (安太歲), tức cúng sao giải hạn, cầu nguyện được vạn sự bình an, cát tường. Ngay từ buổi đầu, tục lệ An Thái Tuế rất giản dị. Tín đồ nào muốn cúng An Thái Tuế thì nên nhân dịp trước hay sau tiết Xuân, lấy giấy màu hồng hay vàng viết lên dòng chữ như “Bổn niên Thái Tuế Tinh Quân đáo thử (本年太歲星君到此, năm nay Thái Tuế Tinh Quân đến đây)”, “Bổn niên Thái Tuế Tinh Quân thần vị (本年太歲星君神位, thần vị của Thái Tuế Tinh Quân năm nay)”, “Nhất tâm kính phụngThái Tuế Tinh Quân (一心敬奉太歲星君, một lòng kính thờ Thái Tuế Tinh Quân)”, đem dán trong nhà, hằng ngày dâng hương cầu khấn. Đến cuối năm, nên đem giấy đó ra đốt với ý nghĩa là “tiễn Thần lên Trời.” Tương truyền trong vòng 60 năm, mỗi năm Trời phái một vị thần phụ trách năm ấy, quản lý toàn bộ việc phước họa của con người. Cho nên, trong thời gian 60 năm ấy có 60 vị Thái Tuế. Tín ngưỡng nầy có từ thời Nam Bắc Triều (南北朝, 420-589), và đến đầu thời nhà Thanh (, 1616-1911) thì có tên họ rõ ràng của 60 vị thần Thái Tuế Tinh Quân. Tên của mỗi vị ứng vào các năm như sau: (1) Thái Tuế năm Giáp Tý là Kim Biện Tổ Sư (金辦祖師), (2) Thái Tuế năm Ất Sửu là Trần Tài Tổ Sư (陳材祖師), (3) Thái Tuế năm Bính Dần là Đam Chương Tổ Sư (耿章祖師), (4) Thái Tuế năm Đinh Mão là Trầm Hưng Tổ Sư (沈興祖師), (5) Thái Tuế năm Mậu Thìn là Triệu Đạt Tổ Sư (趙達祖師), (6) Thái Tuế năm kỷ tỵ là Quách Xán Tổ Sư (郭燦祖師), (7) Thái Tuế năm Canh Ngọ là Vương Thanh Tổ Sư (王清祖師), (8) Thái Tuế năm Tân Mùi là Lý Tố Tổ Sư (李素祖師), (9) Thái Tuế năm Nhâm Thân là Lưu Vượng Tổ Sư (劉旺祖師), (10) Thái Tuế năm Quý Dậu là Khang Chí Tổ Sư (康志祖師), (11) Thái Tuế năm Giáp Tuất là Thí Quảng Tổ Sư (施廣祖師), (12) Thái Tuế năm Ất Hợi là Nhiệm Bảo Tổ Sư (任保祖師), (13) Thái Tuế năm Bính Tý là Quách Gia Tổ Sư (郭嘉祖師), (14) Thái Tuế năm Đinh Sửu là Uông Văn Tổ Sư (汪文祖師), (15) Thái Tuế năm Mậu Dần là Tằng Quang Tổ Sư (曾光祖師), (16) Thái Tuế năm Kỷ Mão là Long Trọng Tổ Sư (仲祖師), (17) Thái Tuế năm Canh Thìn là Đổng Đức Tổ Sư (董德祖師), (18) Thái Tuế năm Tân Tỵ là Trịnh Đán Tổ Sư (鄭但祖師), (19) Thái Tuế năm Nhâm Ngọ là Lục Minh Tổ Sư (陸明祖師), (20) Thái Tuế năm Quý Mùi là Ngụy Nhân Tổ Sư (魏仁祖師), (21) Thái Tuế năm Giáp Thân là Phương Kiệt Tổ Sư (方杰祖師), (22) Thái Tuế năm Ất Dậu là Tương Sùng Tổ Sư (蔣崇祖師), (23) Thái Tuế năm Bính Tuất là Bạch Mẫn Tổ Sư (白敏祖師), (24) Thái Tuế năm Đinh Hợi là Phong Tề Tổ Sư (封齊祖師), (25) Thái Tuế năm Mậu Tý là Trịnh Thang Tổ Sư (鄭鏜祖師), (26) Thái Tuế năm Kỷ Sửu là Phan Tá Tổ Sư (潘佐祖師), (27) Thái Tuế năm canh dần là Ổ Hoàn Tổ Sư (鄔桓祖師), (28) Thái Tuế năm Tân Mão là Phạm Ninh Tổ Sư (范寧祖師), (29) Thái Tuế năm Nhâm Thìn là Bành Thái Tổ Sư (彭泰祖師), (30) Thái Tuế năm Quý Tỵ là Từ Hoa Tổ Sư (徐華祖師), (31) Thái Tuế năm Giáp Ngọ là Chương Từ Tổ Sư (章詞祖師), (32) Thái Tuế năm Ất Mùi là Dương Tiên Tổ Sư (楊仙祖師), (33) Thái Tuế năm Bính Thân là Quản Trọng Tổ Sư (管仲祖師), (34) Thái Tuế năm Đinh Dậu là Đường Kiệt Tổ Sư (唐傑祖師), (35) Thái Tuế năm Mậu Tuất là Khương Võ Tổ Sư (姜武祖師), (36) Thái Tuế năm Kỷ Hợi là Tạ Đảo Tổ Sư (謝燾祖師), (37) Thái Tuế năm Canh Tý là Ngu Khởi Tổ Sư (虞起祖師), (38) Thái Tuế năm Tân Sửu là Dương Tín Tổ Sư (楊信祖師), (39) Thái Tuế năm Nhâm Dần là Hiền Ngạc Tổ Sư (賢諤祖師), (40) Thái Tuế năm Quý Mão là Bì Thời Tổ Sư (皮時祖師), (41) Thái Tuế năm Giáp Thìn là Lý Thành Tổ Sư (李誠祖師), (42) Thái Tuế năm Ất Tỵ là Ngô Toại Tổ Sư (吳遂祖師), (43) Thái Tuế năm Bính Ngọ là Văn Triết Tổ Sư (文哲祖師), (44) Thái Tuế năm Đinh Mùi là Mậu Bính Tổ Sư (繆丙祖師), (45) Thái Tuế năm Mậu Thân là Từ Hạo Tổ Sư (徐浩祖師), (46) Thái Tuế năm Kỷ Dậu là Trình Bảo Tổ Sư (程寶祖師), (47) Thái Tuế năm Canh Tuất là Nghê Bí Tổ Sư (倪秘祖師), (48) Thái Tuế năm Tân Hợi là Diệp Kiên Tổ Sư (葉堅祖師), (49) Thái Tuế năm Nhâm Tý là Kheo Đức Tổ Sư (丘德祖師), (50) Thái Tuế năm Quý Sửu là Chu Đắc Tổ Sư (朱得祖師), (51) Thái Tuế năm Giáp Dần là Trương Triều Tổ Sư (張朝祖師), (52) Thái Tuế năm Ất Mão là Vạn Thanh Tổ Sư (萬清祖師), (53) Thái Tuế năm Bính Thìn là Tân Á Tổ Sư (辛亞祖師), (54) Thái Tuế năm Đinh Tỵ là Dương Ngạn Tổ Sư (楊彥祖師), (55) Thái Tuế năm Mậu Ngọ là Lê Khanh Tổ Sư (黎卿祖師), (56) Thái Tuế năm Kỷ Mùi là Phó Đảng Tổ Sư (傅黨祖師), (57) Thái Tuế năm Canh Thân là Mao Tử Tổ Sư (毛梓祖師), (58) Thái Tuế năm Tân Dậu là Thạch Chính Tổ Sư (石政祖師), (59) Thái Tuế năm Nhâm Tuất là Hồng Sung Tổ Sư (洪充祖師), và (60) Thái Tuế năm Quý Hợi là Ngu Trình Tổ Sư (虞程祖師).
  20. Thành Hoàng (城隍): (1) Đường hào bảo vệ chung quanh thành quách. Từ Thành Hoàng được tìm thấy đầu tiên trong thư tịch Dịch Kinh (易經), phần Thái Quái (泰卦): “Thành phục ư hoàng (城復於隍, thành lại ở trong hào).” Thuyết Văn Giải Tự (說文解字) giải thích rằng: “Thành, dĩ thạnh dân chi (以盛民也, thành trì để bảo vệ dân)” và “Hoàng, thành trì dã (城池也, hoàng là cái hào bảo vệ thành)”, hay “vô thủy viết hoàng (無水曰隍, nơi không có nước gọi là hoàng).” Như vậy, theo nghĩa xa xưa, từ thành hoàngcon sông, cái hào bảo vệ thành quách. Nhân đó, Ban Cố có đoạn văn rằng: “Tu cung thất, tuấn thành hoàng (修宮室浚城隍, sửa cung thất, đào hào thành).” (2) Tên gọi của vị thần bảo vệ thành trì hay quốc gia, hộ trì dân chúng. Với tư cách là vị thần, từ Thành Hoàngđược tìm thấy đầu tiên trong Bắc Tề Thư (北齊書), Truyện Mộ Dung Nghiễm (慕容儼傳): “Thành trung tiên hữu thần từ nhất sở, tục hiệu Thành Hoàng Thần, công tư mỗi hữu kỳ đảo (城中先有神祠一所俗號城隍神公私每有祈禱, trong thành có một chỗ thờ thần, thế gian thường gọi là Thần Thành Hoàng, công tư mỗi người đều có cầu nguyện).” Sau thời Tùy Đường (隋唐, 581-907), việc sùng bái Thành Hoàng bắt đầu lưu hành rộng rãi. Trong điều Tuyên Châu Ty Hộ (宣州司戶) của Thái Bình Quảng Ký (太平廣記) gọi Thành Hoàng là úy quỷ (畏鬼, quỷ sợ), cho nên nhận xét rằng: “Mỗi châu huyện tất hữu Thần Thành Hoàng (每州縣必有城隍神, mỗi châu huyện đều có Thần Thành Hoàng).” Đến thời Ngũ Đại (五代, 907-960), Thần Thành Hoàng đã được sắc phong. Tỷ dụ như Thần Thành Hoàng ở Hàng Châu (杭州) được phong là Thuận Nghĩa Bảo Ninh Vương (順義保寧王), ở Hồ Châu (湖州) là Phụ Tục An Thành Vương (阜俗安城王), ở Mông Châu (蒙州) là Linh Cảm Vương (靈感王), v.v. Dưới thời nhà Tống (, 960-1127), việc sùng bái Thành Hoàng trở thành tế điển quốc gia. Như trong Tân Thối Lục (賓退錄) của Triệu Dữ Thời (趙與時, ?-?) có đoạn rằng: “Kim kỳ tự cơ biến thiên hạ, triều gia hoặc tứ miếu ngạch, hoặc ban phong tước, vị danh giả hoặc tập lân quận chi xưng, hoặc thừa lưu tục sở truyền, quận dị nhi huyện bất đồng (今其祀幾遍天下朝家或賜廟額或頒封爵未名者或襲鄰郡之稱或承流俗所傳郡異而縣不同, ngày nay việc cúng tế Thành Hoàng cùng khắp thiên hạ, triều đình hoặc ban ngạch cho miếu vũ, hay ban phong tước; nơi nào chưa có tên thì hoặc lấy theo tên gọi của quận lân bang, hay theo truyền thuyết lưu truyền ngoài đời, quận khác mà huyện chẳng giống).” Kế thừa nhà Tống đến thời nhà Nguyên (, 1206-1368), khắp nơi từ trong triều nội cho đến ngoài dân dã đều có thiết lập miếu thời Thần Thành Hoàng; vị thần ở kinh đô được tôn xưng là Hựu Thánh Vương (佑聖王). Đến thời nhà Minh (, 1368-1662), tín ngưỡng sùng bái Thành Hoàng trở nên cực thịnh. Vào năm thứ 2 (1369) niên hiệu Hồng Võ (洪武), vua Minh Thái Tổ (明太祖, tại vị 1368-1398), phong cho Thành Hoàng ở kinh đô là Thừa Thiên Giám Quốc Ty Dân Thăng Phước Minh Linh Vương (承天鑒國司民升福明靈王), phong cho Thành Hoàng ở Khai Phong (開封), Lâm Hào (臨濠), Thái Bình (太平), Hòa Châu (和州), Trừ Châu (滁州) là Chánh Nhất Phẩm (正一品); cho Thành Hoàng ở các phủ khác là Chánh Nhị Phẩm (正二品); cho Thành Hoàng ở các châu là Chánh Tam Phẩm (正三品); cho Thành Hoàng ở các huyện là Hiển Hựu Bá (顯佑伯), Tứ Phẩm (四品). Chức trách của Thần Thành Hoàng chủ yếu bảo hộ bá tánh trong thành được an toàn, sức khỏe, cũng như giám sát công lao các quan viên trên cõi thế, thay Trời trị ác trừ hung, hộ trì quốc gia, phán quyết việc sống chết, ban việc phước thọ cho con người. Trong phần Quần Tự Khảo (群祀考) của tác phẩm Tục Văn Hiến Thông Khảo (續文獻通考) có dẫn lời của Minh Thái Tổ rằng: “Trẫm thiết Kinh Sư Thành Hoàng, tỷ thống các Phủ Châu Huyện chi thần, dĩ giám sát dân chi thiện ác nhi họa phước chi (朕設京師城隍俾統各府州縣之神以鑒察民之善惡而禍福之, Trẫm thiết lập Thần Thành Hoàng ở kinh đô để thống lãnh chư vị thần ở các Phủ Châu Huyện, để giám sát việc tốt xấu của muôn dân mà ban cho họa phước).” Về việc cúng tế Thần Thành Hoàng, theo Chư Thần Thánh Đản Nhật Ngọc Hạp Ký (諸神聖誕日玉匣記), nhà Minh quy định ngày 11 tháng 5 Âm Lịch là ngày đản sinh của Thành Hoàng. Tuy nhiên, do vì Thành Hoàng ở các địa phương có công với người dân, nên ngày đản sinh cũng có khác nhau. Tại Việt Nam, tín ngưỡng Thành Hoàng cũng đã thịnh hành từ xa xưa. Giống như Táo Công và Thổ Công, Thành Hoàng cai quản và quyết định họa phúc của một làng và thường được thờ ở đình làng. Sau khi du nhập vào làng xã Việt Nam, tục thờ Thành Hoàng đã nhanh chóng bám rễ vào trong tâm thức người nông dân Việt, trở nên hết sức đa dạng, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn.” Ngài là vị thần tối linh, có thể bao quát, chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng, bảo vệ, phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt, khoẻ mạnh. Thành Hoàng có thể là nam thần hay nữ thần, tùy theo sự tích mỗi vùng. Ngài có thể là một vị thần như Phù Đổng Thiên Vương, thần núi như Tản Viên Sơn Thần, thần có công với dân với nước như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Dã Tượng, v.v. Hay có khi là các yêu thần, tà thần, v.v., với nhiều sự tích hết sức lạ lùng, nhiều khi có vẻ vô lý. Tuy nhiên, có khi Thành Hoàng chỉ là một người dân mà theo quan niệm, là người được các vị thần ban cho sứ mệnh để sau này thay họ cai quản làng xã, được gọi là Thành Hoàng sống. Truyền thống tín ngưỡng, cúng tế Thành Hoàng đã thật sự bám sâu vào gốc rễ tâm linh, văn hóa của người dân Việt, như trong tập truyện ngắn Cái Ve của Khái Hưng (1896-1947) có câu chuyện Tế Thành Hoàng: “Người ta đồn ông Thành Hoàng làng Tiền thiêng lắm. Mỗi lần rước Ngài là một lần vất vả khổ sở cho dân Ngài: nào Ngài bay, nào Ngài lùi, nào Ngài quay, có khi Ngài lại đứng ỳ ra nữa. Các quan viên tha hồ xuýt xoa van lạy, khấn khứa ngài đủ các câu, Ngài vẫn làm ngơ như không nghe thấy gì hết. Những lúc ấy nếu không đốt một tràng pháo thật dài để mừng Ngài, thì khó lòng Ngài chịu đi cho. Thế mà năm nào ra giêng vào đám, vẫn hai lượt dân làng Tiền phải rước Ngài, một lượt từ miếu ra đình để ngài chứng kiến việc hội họp ăn uống, và một lượt từ đình trở về miếu để Ngài an nghỉ. Khó khăn nhất, mệt nhọc nhất cho bọn khiêng kiệu là quãng đường qua đình Tràng. Ngài nô giỡn, Ngài chạy cuồng, Ngài nhảy cẫng như vui thích khoái trá về một điều gì. Người ta nói vì đức Thánh Đình Tràng là một vị nữ thần mà Ngài nghịch ngợm thích trêu ghẹo chơi. Dân làng Tiền cũng không ai phàn nàn về cái thiêng của Ngài. Trái lại, người ta còn lấy làm hãnh diện được thờ một vị thần mà khắp vùng đều kinh sợ. Không phải sợ bóng sợ vía, nhưng sợ những sự tác oai hiển hiện trước mắt. Một lần, một đứa trẻ chăn trâu trèo lên cây muỗm trước miếu, đã bị Ngài quật ngã chết tươi. Lại một lần một con bé bế em đi xem rước giơ tay chỉ trỏ kiệu Ngài, bị Ngài hành cho một trận ốm thập tử nhất sinh…
  21. Khôn (): tên của quẻ Khôn () trong 8 hay 64 quẻ dịch, tượng trưng cho đức nhu thuận, đại diện cho Thổ (, đất), Hoàng Hậu, người mẹ, vợ, người nữ, đối xứng với Càn (). Khôn có nghĩa là thân (, làm cho phải lẽ), cũng có nghĩa là thuận (, tùy thuận, thuận theo). Càn là hình tượng ánh sáng mặt trời chiếu rọi, mang tính tương đối; trong khi đó Khôn là hình tượng ánh sáng của đất. Càn có công năng của Trời sáng tạo nên vạn vật; Khôn thì thuận theo lẽ Trời, là công cụ của Trời hình thành nên vạn vật.
  22. Ly (): đồng nghĩa với Ly (), tên gọi của quẻ Ly () trong 8 hay 64 quẻ dịch, tượng trưng cho sự bảo vệ đức nhu thuận thì vạn vật đều thành, đại diện cho Hỏa (, lửa).
  23. Ngũ phương (五方): năm phương gồm Đông, Tây, Nam, Bắc và trung ương (ở giữa). Như trong Lễ Ký (禮記), phần Vương Chế (王制) có câu: “Ngũ phương chi dân, ngôn ngữ bất thông, thị dục bất đồng (五方之民言語不通嗜欲不同, dân của năm phương, ngôn ngữ chẳng thông, ham muốn bất đồng).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) nhà Đường giải thích rằng: “Ngũ phương chi dân giả, vị Trung Quốc dữ Tứ Di dã (五方之民者謂中國與四夷也, dân của năm phương là Trung Quốc và Tứ Di [tức Đông Di, Nam Man, Tây Nhung, Bắc Địch]).”
  24. Long Mạch (龍脈): khái niệm trọng yếu của Phong Thủy Học, dùng để biểu thị phương hướng, chuyển tiếp, biến hóa của mạch núi hay dòng sông, từ đó suy đoán vị trí địa lý nào là tốt hay không tốt. Nghĩa gốc của mạch () là huyết quản, giống như một loại huyết quản quán thông khắp tất cả. Thân hình con rồng thường giống như rắn; cho nên Long Mạch có nghĩa là huyết quản quán thông kéo dài như con rồng; từ đó, nó có nghĩa là mạch nước ngầm ở dưới đất có ảnh hưởng đến linh khí của vùng đất đó. Phong Thủy Học cho rằng tự nhiên của đất trời cũng thuộc một dạng khả kính như rồng, giống con người, vốn có mạch máu. Nếu xây dựng nhà cửa trên long mạch thì chủ nhân có lợi; còn nếu như khai quật trên long mạch thì bất lợi, vì sẽ làm cho đứt hay vỡ Long Mạch, chẳng khác gì làm vỡ mạch máu thì con người sẽ chết. Phong Thủy Học gọi vị thế núi lớn, sông lớn là Can Long (干龍); núi nhỏ sông nhỏ là Chi Long (支龍); đầu của núi sông là Lai Long (來龍); đuôi của núi sông là Khứ Long (). Ngoài ra, có một số tên gọi khác như Trầm Long (沉龍), Tiềm Long (潛龍), Phi Long (飛龍), Đằng Long (騰龍), Tường Long (翔龍), Quần Long (群龍), Hồi Long (回龍), Quy Long (歸龍), Ngọa Long (臥龍), Tử Long (死龍), Ẩn Long (隱龍), v.v. Từ đó, rồng được xem như thần thủ hộ Long Mạch; nên khi tảo mộ, người ta thường cúng tế vị thần nầy.
  25. Môn Thừa Hộ Úy (門丞): tên gọi vị Môn Thần (門神, Thần Cửa), thông thường trong dân gian có câu: “Tả viết Môn Thừa, hữu viết Hộ Úy (左曰門丞右曰戶尉, bên trái gọi là Môn Thừa, bên phải gọi là Hộ Úy).” Tập tục dân gian xem Thần Trà (神荼), Uất Lũy (鬱壘) là Thần Cửa. Ngày đản sanh của Thần Cửa là 15 tháng giêng. Trong Lương Võ Đế Vấn Chí Công Nhân Quả Kinh (梁武帝問誌公因果經) của Đạo Giáo có đoạn rằng: “Nhân gia hương hỏa thần, chánh thị Môn Thừa Hộ Úy, Tỉnh Táo Thần Quân, Thổ Địa Thần đẳng, chưởng quản nhân gia trú trạch diệc phục ái nhân hành thiện (人家香火神正是門丞戶尉井灶神君土地神等掌管人家住宅亦復愛人行善, thần hương hỏa nhà người đúng là Môn Thừa Hộ Úy, Thần Giếng Táo Quân, Thần Thổ Địa, v.v., quản lý nhà cửa con người và cũng thương người làm việc thiện).” Hay trong Thiên Kim Dực Phương (千金翼方) quyển 30, phần Cấm Cẩu Thử (禁狗鼠) của Tôn Tư Mạc (孫思邈, 581-682) nhà Đường có câu: “Càn khôn định vị, âm dương hóa thành, Môn Thừa Hộ Úy, thị tùng giao giao, Nhị Thập Bát Tú, hắc bạch xích thanh (乾坤定位陰陽化成門丞戶尉侍從交交二十八宿黑白赤青, trời đất định vị, âm dương hóa thành, Môn Thừa Hộ Úy, người hầu đi theo, Hai Tám Ngôi Sao, đen trắng đỏ xanh).”
  26. Cửu Cung (九宮): khái niệm vô cùng quan trọng trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, gồm 9 phương vị căn cứ vào Lạc Thư (洛書) để xác định, thường được ứng dụng trong các phương diện bói toán, quân sự, võ thuật, v.v. Thật sự ra đó là trận chữ số hình vuông có 3 hàng 3 dãy, lấy từ 9 con số, từ 1 đến 9, căn cứ vào quy tắc của Lạc Thư mà hình thành. Về nguyên tắc của Lạc Thư, Chân Loan (甄鸞, ?-?) nhà Bắc Chu (北周, 556-581) có giải thích rằng: “Cửu Cung giả, tức nhị tứ vi kiên, lục bát vi túc, tả tam hữu thất, đới cửu lý nhất, ngũ cư trung ương (九宮者、卽二四爲肩、六八左三右七戴九履一五居中央, Cửu Cung tức hai bốn làm vai, sáu tám làm chân, trái ba phải bảy, đội chín đạp một, năm ở chính giữa).” Cửu Cung và bát quái có mối quan hệ rất mật thiết như: Nhất Cung Khảm (一宮坎, thuộc Bắc), Nhị Cung Khôn (二宮坤, thuộc Tây Nam), Tam Cung Chấn (三宮震, thuộc Đông), Tứ Cung Tốn (四宮巽, thuộc Đông Nam), Ngũ Cung (五宮, thuộc trung ương), Lục Cung Càn (六宮乾, thuộc Tây Bắc), Thất Cung Đoài (七宮兌, thuộc Tây), Bát Cung Cấn (八宮艮, thuộc Đông Bắc), và Cửu Cung Ly (九宮離, thuộc Nam). Như trong Hậu Hán Thư (後漢書) quyển 59, Truyện Trương Hành (張衡傳) có câu: “Thần văn Thánh nhân minh thẩm Luật Lịch dĩ định cát hung, trọng chi dĩ bốc phệ, tạp chi dĩ Cửu Cung(臣聞聖人明審律歷以定吉凶重之以卜筮雜之以九宮, thần nghe rằng Thánh nhân sáng chế ra Luật Lịch để định việc tốt xấu, nếu nặng thì lấy việc bói toán, nếu phức tạp thì lấy Cửu Cung).”
  27. Thanh Long (青龍): còn gọi là Thương Long (蒼龍). Trong truyền thống văn hóa của Trung Quốc, Thanh Long là một trong Tứ Tượng (四象). Căn cứ học thuyết Ngũ Hành, Thanh Long đại biểu cho loại linh thú ở phương Đông, là con rồng có màu xanh. Phương vị của sao nầy nằm ở phương Đông, đại biểu cho mùa Xuân. Trong 28 chùm sao theo quan niệm của Trung Quốc, Thanh Long là tên gọi chung của 7 ngôi sao ở phương Đông, gồm: Giác (), Cang (), Để (), Phòng (), Tâm (), Vĩ () và Ky (). Hình trạng của 7 ngôi sao nầy rất giống một con rồng. Trong phần Tạp Ứng (雜應) của Bão Phác Tử (抱朴子) có đề cập đến Tiên Kinh (仙經) chỉ dẫn cho cách khi vẽ hình Thái Thượng Lão Quân thì bên trái phải có 12 con Thanh Long, bên phải có 26 con Bạch Hổ, phía trước 24 con Châu Tước và phía sau là 72 Huyền Võ. Sau nầy, Tứ Tượng được nhân cách hóa và phong hiệu như vậy. Theo Bắc Cực Thất Nguyên Tử Diên Bí Quyết (北極七元紫延秘訣) cho biết rằng Thanh Long hiệu là “Mạnh Chương Thần Quân (孟章神君)”, Bạch Hổ hiệu “Giám Binh Thần Quân(監兵神君)”, Châu Tước là “Lăng Quang Thần Quân (陵光神君)” và Huyền Võ là “Chấp Minh Thần Quân (執明神君).” Trong cuốn Nhạc Dương Phong Thổ Ký (岳陽風土記) của Phạm Trí Năng (範致能, ?-?) nhà Tống có đoạn rằng: “Lão Tử từ hữu nhị thần tượng, vị Thanh Long, Bạch Hổ dã (老子祠有二神像、謂青龍、白虎也, tại đền thờ Lão Tử có hai tượng thần là Thanh Long và Bạch Hổ).” Bên cạnh đó, trong Thường Thục Tư Chí (常熟私志), Thiên Thư Tự Quan (舒寺觀篇) của Diêu Tông Nghi (姚宗儀, ?-?) nhà Minh cũng có ghi rằng: “Trí Đạo Quán sơn môn nhị đại thần, tả vi Thanh Long Mạnh Chương Thần Quân, hữu vi Bạch Hổ Giám Binh Thần Quân (致道觀山門二大神、左青龍孟章神君、右爲白虎監兵神君, đặt tại sơn môn của Đạo Quán hai tượng thần lớn, bên trái là Thanh Long Mạnh Chương Thần Quân, bên phải là Bạch Hổ Giám Binh Thần Quân).” Thái Thượng Hoàng Lục Trai Nghi (太上黃籙齋儀) quyển 44 nhà Minh gọi 7 ngôi sao Thanh Long ở phương Đông là “Giác Tú Thiên Môn Tinh Quân (角宿天門星君), Cang Tú Đình Đình Tinh Quân (亢宿庭庭星君), Đê Tú Thiên Phủ Tinh Quân (氐宿天府星君), Phòng Tú Thiên Tứ Tinh Quân (房宿天駟星君), Tâm Tú Thiên Vương Tinh Quân (心宿天王星君), Vĩ Tú Thiên Kê Tinh Quân (尾宿天雞星君), và Ky Tú Thiên Luật Tinh Quân (箕宿天律星君)”. Về hình tượng của Thanh Long, Đạo Môn Thông Giáo Tất Dụng Tập (道門通敎必用集) quyển 7 có giải thích rằng: “Đông phương long Giác Cang chi tinh, thổ vân úc khí, hảm lôi phát thanh, phi tường Bát Cực, chu du Tứ Minh, lai lập ngã tả (東方龍角亢之精吐雲郁氣喊雷發聲飛翔八極周遊四冥來立吾左, tinh của Rồng Giác Cang ở phương Đông, nhả mây nuốt khí, phun sấm phát tiếng, bay khắp Tám Cực, chu du Bốn Cõi, đến bên trái ta.” Lại nữa, bộ Vân Cấp Thất Thiêm (雲笈七籖) quyển 72 có dẫn rằng: “Thanh Long giả, Đông phương Giáp, Ất, Mộc, Thủy, Ngân, trừng chi bất tình, giảo chi bất trọc, cận bất khả thủ, viễn bất khả xả, tiềm tàng biến hóa vô tận, cố ngôn long dã (青龍者東方甲乙木水銀也澄之不情攪之不濁近不可取遠不可捨潛藏變化無盡故言龍也, Thanh Long là Giáp, Ất, Mộc, Thủy, Ngân ở phương Đông, lắng trong mà không chút gợn, quậy lên mà không đục, đến gần không thể lấy được, cách xa chẳng thể bỏ qua, tiềm tàng biến hóa vô tận, nên gọi là rồng).” Tục ngữ có câu rằng: “Nam tánh sanh thực khí vô âm mao, tại quá khứ dã khiếu thanh long (男性生器無陰毛、在過去也叫青, người nam sanh ra dương vật không có lông, tại vì đời trước gào thét Thanh Long).” Ngoài ra, dân gian thường cho rằng rồng có tánh dâm, nên khi nó hòa hợp với bò thì sinh ra kỳ lân, với con heo thì sinh ra con voi, v.v.
  28. Bạch Hổ (白虎): hổ trắng, trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, là tên gọi của 1 trong 4 vị thần. Căn cứ học thuyết Ngũ Hành (五行), đây là con linh thú đại biểu cho phương Tây, hình tượng là con hổ màu trắng, đại diện cho mùa Thu. Trong Nhị Thập Bát Tú (二十八宿), nó là tên gọi chung của 7 ngôi sao ở phương Tây gồm: Khuê (), Lâu (), Vị (), Mão (), Tất (), Tuy () và Sâm (). Cho nên trong Thái Thượng Hoàng Lục Trai Nghi (太上黃籙齋儀) quyển 44 của Đạo Giáo gọi Bạch Hổ Tây Đẩu Tinh Quân (白虎西斗星君) là: “Khuê Tú Thiên Tướng Tinh Quân, Lâu Tú Thiên Ngục Tinh Quân, Vị Tú Thiên Thương Tinh Quân, Mão Tú Thiên Mục Tinh Quân, Tất Tú Thiên Nhĩ Tinh Quân, Chuy Tú Thiên Bình Tinh Quân, Tham Tú Thiên Thủy Tinh Quân (宿天將星君、宿天獄星君、宿天倉星君、宿天目星君、宿天耳星君、宿天屛星君、宿天水星君).” Người thời nhà Hán xem con hổ là tượng trưng cho vua của trăm thú. Tương truyền khi một con hổ sống đến 500 tuổi thì lông của nó tự nhiên biến thành màu trắng; cho nên hổ trắng được xem như là đại diện cho một loại linh vật. Khi bậc đế vương có đủ tài đức hay lúc thiên hạ thái bình thì loại thần thú nầy xuất hiện. Vì màu trắng đại biểu cho phương Tây, nên hổ trắng là thần bảo vệ phương Tây. Trong Đạo Môn Thông Giáo Tất Dụng Tập (道門通敎必用集) quyển 7 có giải thích rằng: “Tây phương Bạch Hổ thượng ứng Chuy tú, anh anh tố chất, túc túc thanh âm, uy nhiếp cầm thú, khiếu động sơn lâm, lai lập ngô hữu (西方白虎上應宿、英英素質、肅肅聲音、威攝禽獸、嘯動山林、來立我右, hổ trắng phương Tây trên ứng với sao Chuy, tinh túy nguyên chất, nghiêm nghị âm thanh, uy nhiếp cầm thú, rống động núi rừng, đến bên phải ta).” Hổ trắng là chiến thần, tức là thần sát phạt, do tinh tú biến thành, có đủ quyền năng thần lực như trừ tà, giải trừ tai ương, cầu no đủ, trị ác, khuyến thiện, ban tài lộc, kết lương duyên, v.v. Sở dĩ hổ trắng đại diện cho phương Tây vì trong Ngũ Hành, phương Tây thuộc về Kim, màu trắng. Cho nên tên gọi Bạch Hổ không phải căn cứ vào màu sắc, mà vốn có do Ngũ Hành. Đạo Giáo cũng lấy hổ trắng làm thuật ngữ luyện đơn, như trong Vân Cấp Thất Hy (雲笈七羲) quyển 72 có dẫn bài Cổ Kinh (古經), cho rằng: “Bạch Hổ giả, Tây phương Canh Tân Kim Bạch Kim dã, đắc chân nhất chi vị (白虎者西方庚辛金白金也一之位, Bạch Hổ là Kim, Bạch Kim thuộc Canh Tân ở phương Tây, đắc chân vị số một).” Ngoài ra, Bạch Hổ còn là hình tượng của một hung thần; như trong Hiệp Kỷ Biện Phương (協紀辨方) có dẫn nhân Nguyên Bí Xu Kinh (元秘樞經): “Bạch Hổ giả, tuế trung hung thần dã, thường cư tuế hậu Tứ Thần, sở cư chi địa, phạm chi, chủ hữu tang phục chi tai (白虎者、歲中凶神也、常居歲後四辰、所居之地、犯之、主有喪服之災, Bạch Hổ là hung thần trong năm, thường cư bốn mùa sau một năm; vùng đất ngài sống, nếu phạm phải, chủ yếu có tai họa tang phục).” Thuật Phong Thủy chỉ Bạch Hổ là địa hình phía bên phải huyệt núi; như trong Táng Kinh (葬經) của Quách Phác (郭璞, 276-324) nhà Đông Tấn có cho rằng: “Địa hữu tứ thế, khí tùng bát phương, cố táng giả dĩ tả vi Thanh Long, hữu vi Bạch Hổ (地有四勢氣從八方故葬者以左爲青右有白虎, đất có bốn thế, khí từ tám hướng, cho nên người chôn cất gọi bên trái là Thanh Long, bên phải là Bạch Hổ).” Hay Bạch Hổ còn là tên gọi của con đường lớn bên phải, như trong Dương Trạch Thập Thư (陽宅十書) quyển 1 có câu: “Phàm trạch, hữu hữu trường đạo vị chi Bạch Hổ (凡宅右有長道謂之白虎, phàm nhà phía bên phải có đường dài, được gọi là Bạch Hổ).” Trong Bắc Cực Thất Nguyên Tử Diên Bí Quyết (北極七元紫延秘訣) có đề cập đến hiệu của Bạch Hổ là “Giám Binh Thần Quân (監兵神君).”
  29. Châu Tước (朱雀): (1) Tên của một loại thần điểu, như trong Mộng Khê Bút Đàm (夢溪筆談) quyển 7 có câu: “Tứ phương thủ tượng, Thương Long, Bạch Hổ, Châu Tước, Quy Xà; duy Châu Tước mạc tri hà vật, đản vị điểu nhi châu giả, vũ tộc xích tường thượng, tập tất phụ mộc, thử hỏa chi tượng dã; hoặc vị chi trường cầm (四方取象蒼龍白虎朱雀龜蛇唯朱雀莫知何物但謂鳥而朱者羽族赤而翔上集必附木此火之象也或謂之長离, bốn phương có các hình tượng là Thương Long, Bạch Hổ, Châu Tước, Quy Xà; chỉ có Châu Tước không biết thuộc vật nào; có người bảo rằng chim màu đỏ là loại có lông đỏ mà bay liệng trên cao; khi tập trung thì nương vào cây; loại nầy tượng trưng cho lửa; hoặc bảo nó là loài chim dài).” (2) Tên gọi chung của bảy ngôi sao ở phương Nam, gồm: Tỉnh (), Quỷ (), Liễu (), Tinh (), Trương (), Dực () và Chẩn (). Cho nên, trong Thái Thượng Hoàng Lục Trai Nghi (太上黃籙齋儀) quyển 44 của Đạo Giáo gọi Nam Phương Châu Thôi Tinh Quân (南方朱崔星君) là Tỉnh Tú Thiên Tỉnh Tinh Quân, Quỷ Tú Thiên Quỹ Tinh Quân, Liễu Tú Thiên Trù Tinh Quân, Tinh Tú Thiên Khố Tinh Quân, Trương Tú Thiên Bình Tinh Quân, Dực Tú Thiên Đô Tinh Quân, Chẩn Tú Thiên Nhai Tinh Quân (井宿天井星君鬼宿天匱星君柳宿天廚星君星宿天庫星君張宿天秤星君翼宿天都星君軫宿天街星君). (3) Một trong Tứ Linh (四靈), là vị thần thủ hộ phương Nam trong thần thoại cổ đại Trung Quốc, còn gọi là Châu Điểu (朱鳥), cũng gọi là Phụng Hoàng (鳳凰) hay Huyền Điểu (玄鳥). Châu là màu đỏ, tượng trưng cho lửa, phương Nam thuộc lửa, nên có tên Phụng Hoàng. Châu Tước cũng thuộc một dạng của Bất Tử Điểu (不死鳥) ở phương Tây, vì vậy có tên là Khiếu Hỏa Phụng Hoàng (火鳳凰). Trong Bắc Cực Thất Nguyên Tử Diên Bí Quyết (北極七元紫延秘訣) của Đạo Giáo có đề cập đến hiệu của Châu Tước là Lăng Quang Thần Quân (陵光神君).” Trong Đạo Môn Thông Giáo Tất Dụng Tập (道門通敎必用集) quyển 7 có giải thích rằng: “Nam phương Châu Thôi, tùng cầm chi trưởng, đan huyệt hóa sanh, bích lôi lưu hưởng, kỳ thái ngũ sắc, thần nghi Lục Tượng, lai đạo ngã tiền (南方朱崔從禽之長丹穴化生碧雷流響奇彩五色神儀六象來導吾前, Châu Thôi phương Nam, từ loài chim lớn lên, hóa sanh trong hang đỏ, sấm xanh vang tiếng, năm sắc kỳ diệu, dung nghi vượt Sáu Loài, dẫn đến trước ta).” Đạo Giáo dùng tên Châu Tước làm thuật ngữ luyện đan, như trong Vân Cấp Thất Hy (雲笈七羲) quyển 72 có dẫn bài Cổ Kinh (古經), cho rằng: “Châu Thôi giả, Nam phương Bính Đinh Hỏa Chu Sa dã; bào dịch thành long, kết khi thành điểu; kỳ khí đằng nhi vi thiên, kỳ chất trận nhi vi địa; sở dĩ vi đại đan chi bổn dã; kiến hỏa tức phi, cố đắc Châu Thôi chi xưng dã; Thanh Long đích phương vị thị Đông, đại biểu Xuân quý; Bạch Hổ đích phương vị thị Tây, đại biểu Thu quý; Châu Tước đích phương vị thị Nam, đại biểu Hạ quý; Huyền Võ đích phương vị thị Bắc, đại biểu Đông quý (朱崔者南方丙丁火朱砂也刨液成龍結氣成鳥其氣騰而爲天其質陣而爲地所以爲大丹之本也見火故得朱崔之稱也青龍的方位是東代表春季白虎的方位是西代表秋季朱雀的方位是南代表夏季玄武的方位是北代表冬季, Châu Thôi là Chu Sa, Bính Đinh, thuộc Hỏa; biến chất dịch thành rồng, kết khí thành chim; khí của nó bốc lên làm trời, chất của nó dàn trận thành đất, nên được gọi là nguồn gốc của màu đỏ huyết; thấy lửa thì bay, nên có tên gọi Châu Thôi; phương vị của Thanh Long là Đông, đại diện cho mùa Xuân; phương vị của Bạch Hổ là Tây, đại diện cho mùa Thu; phương vị của Châu Tước là Nam, đại diện cho mùa Hạ; phương vị của Huyền Võ là Bắc, đại diện cho mùa Đông).” (4) Tên gọi của một trong Lục Thú (六獸) hay Lục Thần (六神), gồm: Thanh Long (青龍), Châu Tước (朱雀), Câu Trần (勾陳), Đằng Xà (騰蛇), Bạch Hổ (白虎) và Huyền Võ (玄武). (5) Tên của một trong 12 vị Thiên Tướng, gồm: Thanh Long (青龍), Bạch Hổ (白虎), Huyền Võ (玄武), Châu Tước (朱雀), Quý Nhân (貴人), Đằng Xà (螣蛇), Lục Hợp (六合), Câu Trần (勾陳), Thiên Không (天空), Thái Thường (太常), Thái Âm (太陰) và Thiên Hậu (天后). (6) Tên gọi của một trong 8 vị thần, gồm: Trực Phù (), Đằng Xà (螣蛇), Thái Âm (太陰), Lục Hợp (六合), Câu Trần (勾陳), Châu Tước (朱雀), Cửu Địa (九地) và Cửu Thiên (九天).
  30. Huyền Võ (玄武): (1) Tên của một vị thần ở phương Bắc, như trong Sở Từ (楚辭), thiên Viễn Du (遠遊) của Khuất Nguyên (屈原, khoảng 340-278 ttl.) có câu: “Chiêu Huyền Võ nhi bôn thuộc (玄武而奔屬, mời Huyền Võ đến bảo vệ).” Sau nầy Vương Dật (王逸, 89-158) chú rằng: “Hô Thái Âm Thần sử thừa vệ dã (呼太陰神使承衛也, gọi Thần Thái Âm Thần đến bảo vệ).” Hồng Hưng Tổ (洪興祖,1090-1155) nhà Tống lại chú thích thêm rằng: “Thuyết Giả viết: ‘Tuyên Võ vị quy xà, vị tại Bắc phương cố viết Huyền; thân hữu lân giáp cố viết Võ’; Thái Ung viết: ‘Bắc phương Huyền Võ, giới trùng chi trưởng’; Văn Tuyển chú: ‘Quy dữ xà giao vi Tuyên Võ’ (說者曰宣武謂龜蛇位在北方故曰玄身有鱗甲故曰武蔡邕曰北方玄武介蟲之長文選注龜與蛇交爲宣武, Thuyết Giả bảo rằng: ‘Tuyên Võ là rùa rắn, vị trí tại phương Bắc, nên gọi là Huyền; thân có bộ giáp Kỳ Lân nên gọi là Võ’; Thái Ung [132-192] cho rằng: ‘Huyền Võ ở phương Bắc, lấy môi giới con trùng mà sinh trưởng’; Văn Tuyển chú thích rằng: ‘Rùa cùng với rắn giao nhau thì thành Tuyên Võ’).” Lại nữa, trong Lễ Ký (禮記), phần Khúc Lễ (曲禮) có câu: “Hành tiền Châu Điểu nhi hậu Huyền Võ (行前朱鳥而後玄武, đi trước Châu Tước mà sau Huyền Võ).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) nhà Đường chú thích rằng: “Huyền Võ, quy dã (玄武龜也, Huyền Võ là rùa).” Sau nầy, trong Hậu Hán Thư (後漢書), Truyện Vương Lương (王梁傳) cho biết rằng: “Huyền Võ Thủy Thần chi danh (玄武水神之名, Huyền Võ là tên của vị Thủy Thần).” Lý Hiền (李賢, 654-684) nhà Đường chú thích rằng: “Huyền Võ, Bắc phương chi thần, quy xà hợp thể (玄武北方之神龜蛇合體, Huyền Võ là thần ở phương Bắc, do rùa rắn hợp thể).”Đạo Giáo phụng thờ Huyền Võ là Chơn Võ Đế (武帝), nên để tránh húy, người ta đã đổi Huyền thành Chơn; sau nầy Đạo Giáo thờ Chơn Võ đều có đặt hai bên hai con rùa và rắn. (2) Tên của một ngôi sao, như trong Thượng Thư (尚書), thiên Nghiêu Điển (堯典) có câu: “Tiêu trung Tinh Hư, dĩ ân Trọng Thu (宵中星虛以殷仲秋, trong đêm sao Hư, vào chính giữa Thu).” Sao Hư là tên gọi của một ngôi sao ở giữa trong số 7 ngôi sao ở phương Bắc. Huyền Võ còn là tên gọi chung của 7 ngôi sao nầy, gồm: Đấu (), Ngưu (), Nữ (), Hư (), Nguy (), Thất () và Bích (). Sao nầy vị trí ở phương Bắc và đại diện cho mùa Đông. Cho nên, trong Thái Thượng Hoàng Lục Trai Nghi (太上黃籙齋儀) quyển 44 của Đạo Giáo gọi Bắc Phương Huyền Võ Tinh Quân (北方玄武星君) là: “Đẩu Tú Thiên Miếu Tinh Quân, Ngưu Tú Thiên Cơ Tinh Quân, Nữ Tú Thiên Nữ Tinh Quân, Hư Tú Thiên Khanh Tinh Quân, Nguy Tú Thiên Tiền Tinh Quân, Thất Tú Thiên Lẫm Tinh Quân, Bích Tú Thiên Thị Tinh Quân (斗宿天廟星君牛宿天機星君女宿天女星君虛宿天卿星君危宿天錢星君室宿天廩星君壁宿天市星君)” (3) Một trong Tứ Linh (四靈), là vị thần thủ hộ phương Bắc trong thần thoại cổ đại Trung Quốc. Trong Bắc Cực Thất Nguyên Tử Diên Bí Quyết (北極七元紫延秘訣) của Đạo Giáo có đề cập đến hiệu của Huyền Võ là “Chấp Minh Thần Quân (執明神君).” Về hình tượng, Đạo Môn Thông Giáo Tất Dụng Tập (道門通敎必用集) quyển 7 có giải thích rằng: “Bắc phương Huyền Võ, Thái Âm hóa sanh, Hư Nguy biểu chất, quy xà thai hình, bàn du Cửu Địa, thống nhiếp vạn linh, lai tùng ngô hữu (北方玄武太陰化生虛危表質龜蛇台形盤遊九地統攝萬靈來從吾右, Huyền Võ phương Bắc, Thái Âm hóa sanh, sao Hư Nguy lộ chất, rùa rắn thành hình, ngao du Chín Cõi, thống nhiếp vạn loài, đến bên phải ta).” Đạo Giáo dùng tên Huyền Võ làm thuật ngữ luyện đan, như trong Vân Cấp Thất Hy (雲笈七羲) quyển 72 có dẫn bài Cổ Kinh (古經), cho rằng: “Huyền Võ giả, Bắc phương Nhâm Quý Thủy Hắc Cống dã, năng nhu năng cương (玄武者北方壬癸水黑汞也能柔能剛, Huyền Võ là Hắc Cống thuộc Thủy, Nhâm Quý, ở phương Bắc, có thể nhu có thể cương).” (4) Tên gọi của một trong Lục Thú (六獸) hay Lục Thần (六神), gồm: Thanh Long (青龍), Châu Tước (朱雀), Câu Trần (勾陳), Đằng Xà (騰蛇), Bạch Hổ (白虎) và Huyền Võ (玄武). (5) Tên của một trong 12 vị Thiên Tướng, gồm: Thanh Long (青龍), Bạch Hổ (白虎), Huyền Võ (玄武), Châu Tước (朱雀), Quý Nhân (貴人), Đằng Xà (螣蛇), Lục Hợp (六合), Câu Trần (勾陳), Thiên Không (天空), Thái Thường (太常), Thái Âm (太陰) và Thiên Hậu (天后).
  31. Câu Trần (勾陳): (1) Tên gọi của một trong Lục Thú (六獸) hay Lục Thần (六神), gồm: Thanh Long (青龍), Châu Tước (朱雀), Câu Trần (勾陳), Đằng Xà (騰蛇), Bạch Hổ (白虎) và Huyền Võ (玄武). (2) Tên gọi của một trong 8 vị thần, gồm: Trực Phù (), Đằng Xà (螣蛇), Thái Âm (太陰), Lục Hợp (六合), Câu Trần (勾陳), Châu Tước (朱雀), Cửu Địa (九地) và Cửu Thiên (九天). (3) Tên gọi của ngôi sao trong chùm sao Bắc Cực. Tên tiếng Anh là Polaris, North Star, Lode Star, Polaris Borealis. (4) Tên gọi của Thiên Hoàng Đại Đế (天皇大帝), hay Câu Trần Thượng Cung Thiên Hoàng Đại Đế (勾陳上宮天皇大帝), một trong Tứ Ngự (四御). Trong Hổ Kiềm Kinh (虎鈐經) quyển 12 của đạo giáo có đoạn: “Lục Giáp vi Thanh Long, lục Bính vi Châu Tước, lục Mậu vi Câu Trần, lục Canh vi Bạch Hổ, lục Quý vi Huyền Võ; giả linh Giáp Tý tuần, Thanh Long tại Tý, Châu Tước tại Dần, Câu Trần tại Thìn, Bạch Hổ tại Ngọ, Huyền Võ tại Dậu (六甲爲青龍六丙爲朱雀六戊爲勾陳六庚爲白虎六癸爲玄武假令甲子旬青龍在子朱雀在寅勾陳在辰白虎在午玄武在酉, sáu Giáp là Thanh Long, sáu Bính là Châu Tước, sáu Mậu là Câu Trần, sáu Canh là Bạch Hổ, sáu Quý là Huyền Võ; nếu xoay từ Giáp Tý, Thanh Long tại Tý, Châu Tước tại Dần, Câu Trần tại Thìn, Bạch Hổ tại Ngọ, Huyền Võ tại Dậu).” Trong Thái Thượng Vô Cực Đại Đạo Tam Thập Lục Bộ Tôn Kinh (太上無極大道三十六部尊經) có câu kính lễ như sau: “Chí tâm quy mạng lễ: Tử Vi Thần Cực, Câu Trần Thiên Cung, Cửu Quang Bảo Uyển chi trung, Ngũ Khí Huyền Đô chi thượng, thể nguyên hoàng nhi tá ty huyền hóa, tổng Lưỡng Cực nhi cọng lý Tam Tài, chỉ trì binh cách chi quyền hành, quảng suy đại đức, thống ngự tinh thần chi triền thứ, vô thất thường kinh, thượng tượng nguy nga, chơn nguyên khôi mạc, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, Câu Trần Thượng Cung, Thiên Hoàng Đại Đế (至心皈命禮紫微宸極勾陳天宮九光寶苑之中五氣玄都之上體元皇而佐司玄化總兩極而共理三才主持兵革之權衡廣推大德統御星辰之躔次毋失常經上象巍峨、眞元恢漠大悲大願大聖大慈勾陳上宮天皇大帝, Một lòng quy mạng lễ: Tử Vi Thần Cực, Câu Trần Thiên Cung, trong Cửu Quang Bảo Uyển, trên Ngũ Khí Huyền Đô, thân làm vua trợ giúp tạo hóa, thâu Hai Cực [Nam Cực và Bắc Cực] mà cùng quản lý Tam Tài [thiên vận, địa lý và nhân cách], nắm trọn quyền hành binh lính, đức lớn trùm khắp, thống lãnh tinh tú khắp nơi, không chút sai sót, hình tượng nguy nga, chơn nguyên vắng lặng, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, Câu Trần Thượng Cung, Thiên Hoàng Đại Đế).” (5) Tên của một trong 12 vị Thiên Tướng, gồm: Thanh Long (青龍), Bạch Hổ (白虎), Huyền Võ (玄武), Châu Tước (朱雀), Quý Nhân (貴人), Đằng Xà (螣蛇), Lục Hợp (六合), Câu Trần (勾陳), Thiên Không (天空), Thái Thường (太常), Thái Âm (太陰) và Thiên Hậu (天后).
  32. Đằng Xà ([]): (1) Tên gọi của một trong Lục Thú (六獸) hay Lục Thần (六神), gồm: Thanh Long (青龍), Châu Tước (朱雀), Câu Trần (勾陳), Đằng Xà (騰蛇), Bạch Hổ (白虎) và Huyền Võ (玄武). (2) Tên gọi của một trong 8 vị thần, gồm: Trực Phù (), Đằng Xà (螣蛇), Thái Âm (太陰), Lục Hợp (六合), Câu Trần (勾陳), Châu Tước (朱雀), Cửu Địa (九地) và Cửu Thiên (九天). (3) Tên của một con rắn bay truyền thuyết, như trong Hàn Phi Tử (韓非子), thiên Nan Thế (難勢) có câu: “Thận Tử viết; ‘Phi Long thừa vân, Đằng Xà du vụ’ ( 飛龍乘雲騰蛇遊霧, Thận Tử bảo rằng: ‘Rồng Bay cỡi mây, Rắn Lượn chơi sương’).” Hay như trong bài Hỗn Thiên Phú (渾天賦) của Dương Quýnh (楊炯, 650-?) nhà Đường cũng có câu: “Bắc cung tắc Linh Quy tiềm nặc, Đằng Xà phục tàng (北宮則靈龜潛匿騰蛇伏藏, nơi cung điện phía Bắc ắt có Rùa Thiêng ẩn thân, Rắn Bay núp bóng).” (4) Tên của một ngôi sao, như trong Tấn Thư (晉書), phần Thiên Văn Chí Thượng (天文志上) có câu: “Đằng Xà nhị thập nhị tinh tại Doanh Thất Bắc, thiên xà dã; chủ thủy trùng (騰蛇二十二星在營室北天蛇也主水蟲, hai mươi hai ngôi sao Đằng Xà ở phía Bắc sao Doanh Thất, là rắn trời; chủ yếu là trùng nước).” (5) Tên của một trong 12 vị Thiên Tướng, gồm: Thanh Long (青龍), Bạch Hổ (白虎), Huyền Võ (玄武), Châu Tước (朱雀), Quý Nhân (貴人), Đằng Xà (螣蛇), Lục Hợp (六合), Câu Trần (勾陳), Thiên Không (天空), Thái Thường (太常), Thái Âm (太陰) và Thiên Hậu (天后).